Thứ Hai, 11 tháng 9, 2017

Chùa Đồng (Yên Tử, Quảng Ninh)

Chùa Đồng có tên gọi ban đầu là Thiên Trúc Tự, sở dĩ được gọi là chùa Đồng vì toàn bộ Chùa được làm bằng chất liệu đồng (theo lời sư trụ trì chùa Thích Thanh Quyết). Chùa tọa lạc ở đỉnh cao nhất dãy Yên Tử (1.068m). Chùa Đồng (Yên Tử) đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam ghi nhận là ngôi chùa đồng lớn nhất và nằm ở độ cao nhất cả nước.


Đây cũng là ngôi chùa được xếp vào hàng độc đáo nhất trên thế giới, được ví như một “kỳ quan mới” tại khu danh thắng Yên Tử – hiện đang giữ rất nhiều kỷ lục mà không phải ai cũng biết.


Phía sau chùa là vực sâu với vách núi đá dựng đúng thuộc địa phận tỉnh Bắc Giang.




[caption id="attachment_2965" align="aligncenter" width="1021"]Lễ hội chính của Chùa Đồng là mùng 10 tháng Giêng hàng năm Lễ hội chính của Chùa Đồng là mùng 10 tháng Giêng hàng năm[/caption]

Cảnh quan và Kiến trúc Chùa Đồng


Khi thi công chùa Đồng mới, hai ngôi chùa cũ trên đã được chuyển về bảo quản tại Ban Quản lý di tích Yên Tử, và sau này được chuyển về Nhà trưng bày.


Địa thế chùa được dựng mang hình dáng một đóa sen khổng lồ, trong đó mỗi phiến đá là một cánh sen nở, chùa Đồng tọa lạc giữa đài sen. Địa thế nghiêng sang hai bên, phía đông triền đá dốc nghiêng, phía tây dốc đứng thành vực thẳm, lối đi chỉ vừa một bàn chân chênh vênh. Chùa quay về hướng Tây Nam, có bình đồ kiến trúc hình chữ “nhất”, một gian hai chái, cũng mang dáng như một bông sen nở.


Chùa Đồng mới do các nghệ nhân đúc đồng ở Ý Yên, Nam Định thực hiện theo mẫu chùa Dâu Keo (Thuận Thành, Bắc Ninh), nặng 70 tấn, dài 4,6m, rộng 3,6m và chiều cao từ cột nền tới mái là 3,35m. Các hoa văn, họa tiết trên đầu đao, bệ mái mang đậm phong cách đời Trần. Toàn bộ công trình gồm chùa, tượng Phật, chuông nặng hơn 70 tấn, được đúc bằng đồng nguyên chất nhập từ Australia, với khoảng hơn 4.000 cấu kiện, trong đó cấu kiện nặng nhất có trọng lượng 1,4 tấn, được lắp đặt trực tiếp trên đỉnh núi.


Hai bên chùa có giá treo chuông, khánh. Sau chùa là nhà tăng cho sư an trú lo Phật sự của chùa.


Do vị trí cheo leo, đỉnh núi quanh năm mây mờ che phủ nên chùa được thiết kế đặc biệt với những phương pháp tối ưu nhất để chống chịu với thời tiết khắc nghiệt.


Lên đỉnh Yên Sơn, đi trong mây không phân biệt đâu là trời, đâu là đất, đâu là người ở nơi hòa đồng giữa trời đất và người (thiên, địa, nhân). Từ đỉnh Yên Sơn nhìn về 4 hướng là cả vùng Đông Bắc như dải lụa xanh thẳm, cảnh đẹp lạ thường.


Lịch sử Chùa Đồng


Chùa Đồng – Yên Tử từng là nơi tu hành của Đức Vua – Phật Hoàng Trần Nhân Tông, con trưởng của vua Trần Thánh Tông (1258-1308). Nguyên khởi, chùa Đồng do một bà phi của chúa Trịnh dựng vào thời hậu Lê (thế kỷ 17). Chùa được đúc bằng đồng, ban đầu chỉ là một cái khám nhỏ, một người chui không lọt.


Đến năm Canh Thân 1740, đời vua Lê Cảnh Hưng, bão làm bật mái chùa, sau bị kẻ gian dỡ phần còn lại chỉ để lại dấu tích các hố cột chôn trên mỏm đá.


Vào mùa Đông 1930, bà Bùi Thị Mỹ từ chùa Long Hoa tái tạo chùa Đồng bằng bê tông cốt đồng trên một hòn đá vuông cao quá đầu người ở vị trí chùa Đồng cũ.


Đến năm 1993, ông Nguyễn Sơn Nam, một Việt kiều ở Mỹ, cùng các phật tử ở hải ngoại phát tâm đúc lại chùa mới kiến trúc hình chữ Đinh theo dáng một bông sen nở, ngự trên sập đồng chân quỳ dạ cá trổ hình hoa sen cách điệu, đặt ngay bên cạnh ngôi chùa Đồng bằng bê tông xây dựng đầu thế kỷ XX.


Theo tinh thần, hai chùa quy vào một khối, không để Phật tử và nhân dân phải thờ hai chùa Đồng cùng một lúc, thực hiện Quyết định số 3325/QĐ-UB ngày 29/8/2005 của UBND tỉnh Quảng Ninh Phê duyệt dự án đầu tư tôn tạo tại chùa Đồng tại khu di tích Yên Tử, TP Uông Bí. Ngày 03 tháng 6 năm 2006 dưới sự chủ trì của Tiến sĩ Phật học Đại Đức Thích Thanh Quyết (Thượng Tọa Thích Thanh Quyết) và Ban Quản lý Dự án chùa Đồng, bằng công đức thập phương trong và ngoài nước đã khởi lễ đúc chùa Đồng theo mẫu thiết kế của kiến trúc sư Trần Quốc Tuấn – Viện Bảo Tồn Di Tích. Chùa được khánh thành vào ngày 30 tháng 01 năm 2007, tọa lạc trên đỉnh non thiêng ở vị trí giữa hai ngôi chùa được xây dựng trước đây.


Hệ thống thờ cúng tại Chùa Đồng


Hệ thống tượng Phật trong chùa gồm 1 pho tượng Phật Thích Ca và 3 pho tượng Tam Tổ Trúc Lâm. Tượng có kích thước cao trung bình từ 0,45-0,87m tọa trên đài sen, trong đó 3 pho tượng Tổ được tạo tác lớn hơn. Tượng Thích Ca trong trang phục áo cà sa, tọa thiền với tư thế kiết già (thế liên hoa tọa). Tượng Đệ nhất Tổ (Trần Nhân Tông) mặc áo cà sa, tay úp lên hai đùi, tư thế ngồi “kiết già kiểu cát tường” hay còn gọi là “cát tường tọa” mắt nhìn xuống soi rọi nội tâm. Tượng Đệ nhị Tổ (Pháp Loa) và Đệ tam Tổ (Huyền Quang) mặc áo cà sa, tư thế ngồi kiết già không lộ bàn chân, tay kết “định ấn”. Toàn bộ 3 pho tượng Tổ ngự trên đài sen đặt trên bệ, trang trí hoa văn hình sen, cúc, thị, lá lật, hoa văn sóng nước.


Từ lâu, chùa Đồng không chỉ mang ý nghĩa về kiến trúc mà xét trên phương diện tín ngưỡng lâu đời, nó có ý nghĩa tâm linh đặc biệt. Chùa Đồng Yên Tử hoàn toàn khác biệt bất cứ công trình đúc kim loại nào trên thế giới, kể cả kiến trúc và điêu khắc mỹ thuật. Đó là vẻ đẹp vừa khỏe khoắn, vừa mềm mại, bay bổng.


Theo dân gian, chùa Đồng – Yên Tử là nơi con người có thể cầu viện được “sinh lực của vũ trụ” cho mọi mặt của cuộc đời. Dòng sinh lực vũ trụ này như mọi nguồn hạnh phúc chảy xuống mặt đất làm nảy nở sự sống. Dòng tôi chảy của sự thiêng liêng đó chỉ xảy ra ở những mảnh đất hội được những điều kiện nhất định. Chùa Đồng, nơi mà tín đồ, phật tử đặt niềm tin vào sự linh ứng mỗi lần đến thăm viếng để được nhập vào nguồn sinh khí vô biên đó.


Hàng năm, lễ hội ở chùa Đồng và Yên Tử nói chung diễn ra vào ngày mùng 10 tháng Giêng (Âm lịch) và 3 ngày đầu năm. Ngoài ra, vào những ngày sóc, vọng hay lễ Vu Lan, Phật đản, nhiều Phật tử cả nước cũng về đây hành hương lên chốn Trúc Lâm Yên Tử linh thiêng để tỏ lòng thành kính với Đức Phật từ bi.


Xem thêm bài viết: Chùa Đồng (Yên Tử, Quảng Ninh) tại Khám Phá 365

Phật Giáo quan niệm ra sao về cái chết ?

Cái chết luôn mang lại cho con người những tâm trạng khác nhau, đó có thể là lo âu, sợ hãi, day dứt, nhưng chỉ biết chắc rằng trước khi có chết thì cần phải có sự sống cái đã. Và nói cho cùng thì phạm trù chết - sống cũng chỉ là hai mặt của vấn đề, mà nếu như như con người thiếu đi cái nhìn toàn diện, chỉ nhìn một vấn đề thì hẳn là thiếu sót.
Mỗi con người nếu coi cái chết là vô thường sẽ có được đời sống bớt khổ đau


Phật giáo quan niệm ra sao về cái chết ? 


Trên dòng đời, chết cũng chỉ như một biến cố, như việc bạn đnag đi trên đường mà vấp ngã vậy. Phật giáo cho rằng cái chết chỉ như một sự nối tiếp và chuyển động bất tận, chỉ là một sự bắt đầu chứ không phải chấm dứt. Chính vì thế mà Đức Phật luôn muốn hướng con người đến suy nghĩ coi chết là sự vô thường, thì sẽ không bị những cảm xúc của nó chi phối.


Cái chết theo quan niệm phật giáo thì nó không phải sự đối nghịch với sự sống mà chỉ là ngược chiều của sự sinh. Nếu như sự sống là xuôi dòng thì chết là ngược dòng. Nó làm thành một chu kỳ ngược xuôi bất tận. Nhưng suy nghĩ cho cùng chết hay của con người hay những chúng sinh khác đều phụ thuộc vào sự xoay vòng của vũ trụ.


Chết là sự tan biến của những gì đã được hợp thành, là quá trình mà ngày từ khi được kết hợp từ cha và mẹ, nó đã hiện hữu, chỉ là bao giờ nó xảy ra. Nói như vậy để mỗi người có những hình dung đúng đắn về chết, đón nhận nó với tâm thế bình thường nhất. Chứ dừng để cái cảm xúc đau thương, sầu muộn làm chết đi tâm hồn mình.


Vì sau chúng ta hoảng loạn trước cái chết? 


Con người ai cũng sẽ có tâm lý lo sợ, hoảng loạn khi chết cận kề mình, hay đau khổ, sầu não khi chứng kiến người thân mình mất đi. Vì sao lại như vậy?  chỉ có thể trả lời rằng vì họ không thể xem chết là vô thường, là vì tâm lý sống xa rời thực tế nên khi chết tìm đến thì trở tay không kịp.


Không nghiễm nhiên mà Phật dạy mỗi người nên chuẩn bị cho cái chết của chính mình. Con người ta đâu ai muốn chết, nên họ đâu có lo cho cái chết của mình. Vì thế nên nó ập đến họ cho rằng đó là sóng gió, giông bão cuộc đời, là sự bất công của cuộc đời đối với họ. Rồi từ đó tâm thế bất an, chán trường và không còn nghị lực bước tiếp trên cuộc đời đang dang dở. Ấy vậy nên mỗi người hãy luôn có được cái nhìn đúng đắn về chết, nên biết mình cần làm gì cho mình và người đã mất để cả hai thế giới đều được thanh thản, yên vui.


Xem thêm bài viết: Phật Giáo quan niệm ra sao về cái chết ? tại Khám Phá 365

Điều chưa kể về đền Cô Bơ Bông

Cô Bơ Bông là một thánh cô nổi tiếng trong Tứ Phủ Thánh Cô. Đền chính của Cô hiện nay là Đền Ba Bông tại xã Hàn Sơn, Hà Trung, Thanh Hóa. Cô Bơ Bông còn gọi là Cô Ba Hàn Sơn, Cô Bơ Thác Hàn...


Người viết xin cung cấp cho bạn đọc nhưng điều chưa từng kể về đền Cô để các bạn biết thêm về thần tích, sự linh thiêng của đền Cô và sự hy sinh cao cả của những thủ nhang đồng đền nơi đây.


Tượng Cô Bơ Bông Hàn Sơn


Sự tích về Đền Cô Bơ Bông


Vào khoảng năm 1939 - 1940, Đền Bơ Bông đã bị giặc Nhật phá đổ, đốt tượng. Lúc đó, cụ Nguyễn Trọng Khanh là thủ nhang của đền đã bí mật cứu gỡ được một số bài vị, bát hương, đỉnh thờ và pho tượng cô đem giấu đi. Sau đó ít ngày, Cụ đã xin giặc Nhật cho lập đền thờ Trần Hưng Đạo ở khu bãi bồi bên sông cách đền cũ chừng 200 m. Cụ nói tránh là lập đền thờ Trần Hưng Đạo chứ thực chất là lập dựng lại đền Cô. Nơi dựng đền cô lúc đó chỉ toàn lau lách. Dưới sự quyết tâm của Cụ và bà con làng xóm, một ngôi đền 3 gian bằng tre nứa lá đơn giản đã được xây dựng.


Sau đời cụ Nguyễn Trọng Khanh là cụ Nụ làm thủ nhang. Cụ Nụ có công rất lớn trong việc tôn tạo lại đền. Nghe nói quê cụ tận Khoái Châu, để có kinh phí xây dựng lại đền cụ đã về quê bán hết nhà cửa ruộng đất để xây dựng được ngôi đền gạch, lợp ngói 5 gian. Cụ mất vào khoảng năm 1994 - 1995. Cụ đã được nhân dân quanh vùng đưa rước rất lớn. Hiện ngôi mộ cụ được nhân dân, xây dựng tu bổ rất hoành tráng ngay tại nghĩ trang Hàn Sơn.


Năm 1996, ngôi đền được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc Gia. Như vậy, ngôi đền được như ngày nay là công sức đóng góp, sự hy sinh cao cả của hai cụ thủ nhang: Cụ Trọng và cụ Nụ.


Hiện nay, khu đất cũ của đền Cô mà đã bị giặc Nhật phá đã có người dân xây dựng 3 gian nhà ngói để ở. Nhưng nghe đâu, miếng đất nơi đền cũ linh thiêng không ở được. Người ở đó đã bỏ lại ngôi nhà chỉ để dành thắp hương cho cô và đi kiếm ăn nơi xa.


Thần tích về Cô Bơ Bông


Theo cuốn "Lê Triều Thần Phả Ngoại Biên" được lưu giữ tại Thái Miếu họ Lê có ghi chép về thần tích cô Bơ Bông tóm tắt như sau:


Vào khoảng năm 1432, vua Lê Lợi có một đêm mộng thấy một nữ thủy thần báo mộng: "Ta là con gái vua Thủy tề đây. Nhà vua còn nhớ là nợ ta một lời hẹn ước hay không? Bây giờ nghiệp đế vương đã thành sao chưa thấy trả". Vua Lê Lợi giật mình tỉnh dậy mới nhớ lại chuyện cũ. Ngày xưa, vào những năm đầu khởi nghĩa, Lê Lợi bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp cô gái xinh đẹp, đoan trang đang tỉa ngô được cô cứu thoát.


Vua Lê Lợi để tỏ biết ơn cô, có nói với cô rằng: " Ta có một cháu trai tuấn tú, khôi ngô, văn võ song toàn. Sau này kháng chiến thành công ta sẽ gả cháu ta cho cô." Người mà Lê Lợi nhắc đến chính là tướng quân Lê Khôi, cháu trai của Lê Lợi (Tướng Lê Khôi chính là một trong các hiện thân của Quan Hoàng Mười được thờ tại đền Củi ngày nay). Cô gái ấy chính là hiện thân của Cô Bơ.


Tương truyền rằng, sau thắng lợi, Vua Lê Lợi có quay lại tìm cô gái nhưng không thấy. Như vậy lời hứa gả cô cho tướng Lê Khôi đã không được thực hiện.


Sau giấc mơ, biết cô gái tỉa ngô nơi xưa chính là con gái vua thủy tề, hiện thân lên cõi trần để giúp vua xây dựng nghiệp lớn, vua Lê Lợi đã phong cô là "Thượng Đằng Thần" và cho xây dựng đền Cô, để tưởng nhớ công lao của Cô.


Thần tích về Cô Bơ Bông đã công bố


Người viết cũng xin cung cấp thêm với bạn đọc tóm tắt một số thần tích đã công bố để bạn đọc tham khảo:


Vào thời mới khởi nghĩa, có một lần Lê Lợi bị giặc đuổi đến ngã ba Thác Hàn thì gặp một cô gái đang tỉa ngô. Cô đã lấy quần áo nông dân cho Lê Lợi mặc giả làm anh trai cùng tỉa ngô. Vì thế, Lê Lợi đã thoát cuộc tuy đuổi. Lê Lợi rất biết ơn cô gái và có hẹn sau này chiến thắng sẽ đón cô về cung phong công và phong phi tử. Tuy nhiên, sau này khi kháng chiến thành công, Lê Lợi cho người về đón thì được biết cô gái vẫn một lòng kiên trinh chờ đợi cho đến khi thác hóa. Cô gái còn có công lớn trong việc vận chuyển quân lương, quân lính của Lê Lợi trong suốt cuộc khởi nghĩa.


Một huyền tích khác về Cô Ba Thoải Cung Hàn Sơn, huyền tích này nói về công trạng của Cô Bơ sau khi thác hóa.


Vào đầu triều đại Vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497), thái úy Lê Thọ Vực, được giao trấn giữ biên ải Ba Bông. Trong một trận chiến kéo dài, tình thế nguy cấp. Đêm đó. Lê Thọ Vực đã mơ thấy một tiên nữ mặc xiêm y trắng trên mây giáng xuống ngã Ba Bông, rẽ nước bước lên kiệu võng mà nói rằng: “Hãy lui quân về Nhị Sơn hạ thủy mà vây hãm, lên núi Thạch Bàn mà cầu Mẫu thoải tất ứng linh”. Theo lời, Lê Thọ Vực đã dẫn quân xuôi về Thác Hàn Sơn dâng lễ cầu Mẫu rồi bố trí quân binh mai phục. Ứng báo của Mẫu cho kế phá giặc là lấp đá chặn dòng, lấy thủy triều dâng, làm nghi binh nhử giặc vượt qua bãi đá ngầm, khi nước thủy triều xuống thì tổng lực phản công, thuyền giặc rút chạy bị vấp vào bãi đá ngầm, lật nhào chìm đắm rất nhiều, quân mai phục đổ ra đánh úp, quân giặc chết nhiều vô kể và thất bại thảm hại, không còn dám quấy nhiễu nữa.


Để đáp lại ân đức của thánh thần, tướng quân Lê Thọ Vực tâu vua, vua Lê cho lập đền thờ Cô Bơ và đền thờ mẫu Đệ Tam ở vùng này.


Ngày tiệc Cô


Ngày 12.6 âm lịch là ngày rước Cô lên đền Mẫu. Nhưng ngày mất của Cô tương truyền là ngày 8/2. Nhiều nơi vẫn làm ngày tiệc Cô vào 8/2. Tuy vậy, để kỷ niệm ngày rước Cô lên đền Mẫu được coi là chính tiệc của Cô Bơ Bông.


( Xin cảm ơn bạn Lê Văn Sĩ - phụng thánh tại thành phố Thanh Hóa, một đệ tử của Cô Bơ Bông đã cung cấp tư liệu cho bài viết này).


LÊ HỒNG THÁI


Xem thêm bài viết: Điều chưa kể về đền Cô Bơ Bông tại Khám Phá 365

Sự tích đền ông Hoàng Bảy

Đền ông Hoàng Bảy - hay còn gọi là đền Bảo Hà - di tích nằm trên ngọn núi Cấm thuộc xã Bảo Hà (Bảo Yên; Lào Cai) là một điểm đến hấp dẫn du khách vì nhiều lý do; trong đó có những câu chuyện truyền kỳ khó tin.


den-ong-hoang-bay

Ông Hoàng Bảy thực sự là ai cho đến nay vẫn là một bí ẩn; dù trong dân gian có nhiều câu chuyện truyền kỳ khác nhau giải đáp điều này.

Ông “thần vệ quốc”

Người Bảo Hà chỉ biết ông Hoàng Bảy là “thần vệ quốc” - một vị anh hùng của miền sơn cước từng đánh giặc phương Bắc bảo vệ nhân dân. Khi ông mất; đền thờ ông được xây dựng trên ngọn núi Cấm; quay mặt ra phía sông Hồng; đúng thế “tựa sơn đạp thủy” để “trấn yểm” cho vùng đất biên giới được bình yên; thịnh vượng.


Truyền thuyết kể rằng; Ông Hoàng Bảy hay thường gọi là Ông Bảy Bảo Hà. Ông là con Đức Vua Cha. Theo lệnh vua; ông giáng phàm trần; trở thành con trai thứ bảy trong danh tộc họ Nguyễn; cuối thời Lê. Vào cuối đời Lê niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786 ) khắp vùng Qui Hóa gồm Châu Thủy Vĩ và Châu Văn Bàn (thuộc Lào Cai bây giờ) luôn bị giặc phương Bắc tràn sang cướp phá; khắp vùng loạn lạc; cư dân điêu tàn. Trước cảnh đau thương tang tóc ấy; tướng Hoàng Bẩy được triều đình giao trọng trách khởi binh dẹp loạn vùng biên ải. Đội quân của ông tiến dọc sông Hồng đánh đuổi quân giặc; giải phóng Châu Văn Bàn và củng cố xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn.


Trong một trận chiến đấu không cân sức Ông Bảy bị giặc bắt; chúng tra khảo hành hạ dã man; nhưng ông vẫn một lòng kiên trung; quyết không đầu hàng; cuối cùng; không làm gì được; chúng sát hại ông rồi mang thi thể vứt xuống dòng sông. Kì lạ thay; di quan của ông dọc theo sông Hồng; trôi đến phà Trái Hút; Bảo Hà; Lào Cai thì dừng lại. Nhân dân trong vùng đã vớt; an táng thi thể ông và lập đền thờ tại đây để ghi nhớ công đức to lớn của ông.


Còn một điều kì lạ nữa là khi ông bị giặc sát hại; thì trời bỗng chuyển gió; mây vần vũ; kết lại thành hình thần mã; từ thi thể ông phát ra một đạo hào quang; phi lên thân ngựa; đến Bảo Hà thì dừng lại; trời bỗng quang đãng; mây ngũ sắc kết thành hình tứ linh chầu hội.


Sau này khi hiển linh ông được giao quyền cho trấn giữ đất Lào Cai; ngự trong dinh Bảo Hà; đến lúc này ông nổi tiếng là một Ông Hoàng không chỉ giỏi kiếm cung mà còn rất ăn chơi; phong lưu: khi thanh nhàn ông ngả bàn đèn; uống trà mạn Long Tỉnh; ngồi chơi tổ tôm; tam cúc; xóc đĩa… lúc nào cũng có thập nhị tiên nàng hầu cận; ông cũng luôn khuyên bảo nhân dân phải ăn ở có nhân có đức; tu dưỡng bản thân để lưu phúc cho con cháu. Triều vua Minh Mạng; Thiệu Trị sắc tặng ông danh hiệu “Trấn An Hiển Liệt” và các triều vua nhà Nguyễn khác tôn ông danh hiệu: “Thần Vệ Quốc – Ông Hoàng Bảy Bảo Hà”.


Đền Bảo Hà lưng tựa vào núi; mặt hướng theo dòng nước sông Hồng và nơi đây còn có sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên với kiến trúc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam theo thuyết phong thủy. Đến thờ thần vệ quốc” Hoàng Bẩy; vị anh hùng miền sơn cước đánh giặc phương Bắc bảo vệ dân làng. Vì thú chơi phong lưu của ông nên nơi ông ngự còn được mệnh danh là Trái Hút Bảo Hà.


Hội đền Bảo Hà được tổ chức vào ngày 17/7 âm lịch hàng năm. Vào ngày này có đông đảo du khách thập phương đến dự. Người ta thường dâng ngựa xám; bàn đèn; thuốc cống; kẹo xìu (kẹo lạc)…. Ngoài những ngày lễ hội; vào những ngày thường (đặc biệt là vào mùa xuân) khách thập phương trong cả nước vẫn thường xuyên tụ họp về đây để thắp hương tưởng niệm; cầu an; cầu lộc.




[caption id="attachment_333" align="aligncenter" width="564"]Tượng Thờ Ông Hoàng Bảy Tượng Thờ Ông Hoàng Bảy[/caption]

Tại sao khi lễ Ông Hoàng Bảy hay dâng trà Ô Long và thuốc phiện?


Để có thể thu phục được các thổ ti; tù trưởng thì quan Hoàng Bảy không dùng biện pháp quân sự mà bằng sự thu phục nhân tâm. Để thu phục nhân tâm ông đã chủ động hòa nhập vào cuộc sống của các tù trưởng thô ti như uống trà; đánh bạc; hút thuốc phiện.... Có lẽ vì vậy; cứ nói đến ông Hoàng Bảy là chúng ta nghĩ đến một vị quan ăn chơi bậc nhất trong các vị thánh.


Tuy vậy; sự ăn chơi của ông không phải là thú vui của ông mà chính là cách ông tiếp cận với các thổ ti; tù trưởng và sau đó cảm hóa họ để tạo nên sự đoàn kết và ổn định biên cương tổ quốc.


Tuy vậy; việc dâng ông thuốc phiện là phạm pháp; chúng ta chỉ nên dâng ông Hoàng Bảy trà tàu và thuốc lá là được. Nên nhớ rằng nhà thánh cũng không bao giờ ủng hộ chúng ta vi phạm pháp luật.


Gạt đi những chuyện mê tín


Vốn để thờ vị tướng có công đánh giặc yên dân; nhưng không rõ từ bao giờ đền ông Hoàng Bảy đã trở thành địa điểm mà “dân số má” từ khắp các nơi kéo về dâng lễ cầu lộc.


Điều đáng ngạc nhiên rất nhiều người; đặc biệt dân giang hồ đến đây cầu lộc. Ông bảo; có những đợt ông được chứng kiến tận mắt; tai nghe rõ ràng từng câu xin lộc ông Hoàng Bảy của “dân số má” rằng: “Cầu xin ngài cho con đánh lô trúng lô; đánh đề trúng đề; buôn bán trót lọt; ít qua ít; nhiều qua nhiều…”. Chỉ vài ngày sau; người ấy quay lại tạ lễ vì thắng lớn. Đấy không phải là trường hợp điển hình mà hầu hết “dân số má” đều kéo đến đền Bảo Hà xin lộc. Có lẽ vì thế; mà đền Bảo Hà được xưng tụng là “đền số má”.


Đã từng có thời gian; đền Bảo Hà trở thành một trong những “điểm nóng” về tệ nạn xã hội; đặc biệt là tệ nạn ma túy.


Cấm mang thuốc phiện vào đền

Nhiều người lạ đến đền ông Hoàng Bảy không khỏi ngỡ ngàng khi thấy những biển hiệu “Cấm mang thuốc phiện vào đền” treo từ ngoài cổng đến bên trong đền. Trước đây khi thuốc phiện còn phổ biến; dân giang hồ có thói quen dâng lễ bằng thuốc phiện. Họ mang cả thuốc phiện và bàn đèn vào đền dâng ông Hoàng Bảy để mời thánh xin lộc. Việc làm vi phạm pháp luật ấy từng gây bức xúc trong nhân dân nên Ban quản lý đền buộc phải có biển cấm và theo dõi sát những đối tượng khả nghi để kịp thời ngăn chặn.


Gạt đi những chuyện mê tín hay lời đồn thổi chưa rõ thực hư trong dân gian đó; thì đền ông Hoàng Bảy vẫn là một điểm thu hút du khách thập phương vì những nét kiến trúc cổ cũng như phong cảnh hữu tình. Dịp mùa xuân hay hội đền vào tháng 7 âm lịch; người dân nhiều địa phương trong cả nước vẫn tìm đến đây để cầu lộc; cầu an. “Đền ông Hoàng Bảy rất quan trọng trong tâm linh thờ Mẫu. Đó là một trong ba ngôi đền của tín ngưỡng thờ Mẫu có vị trí đặc biệt cùng với đền ông Hoàng Bơ và ông Hoàng Mười”


Xem thêm bài viết: Sự tích đền ông Hoàng Bảy tại Khám Phá 365

Vong Hài Nhi Đỏ

Người chết trong trạng thái nào thì vong sẽ tồn tại trong trạng thái đó, dù là hài nhi, bé đỏ hay thiếu nhi, thanh niên, người già…hình dạng đó cố định mãi theo thời gian, chỉ có tư tưởng, suy nghĩ của vong là thay đổi. Với thời gian 10 năm dương trần bằng 1 năm cõi âm, tư duy của vong linh luôn vận động và phát triển không ngừng.


Bởi vậy những người bị chết nát thây, nát chân tay hoặc đầu mặt, treo cổ tự tử…cơ thể biến dạng thảm hại trước khi chết thì thân nhân cần phải biết việc hoàn thân hoàn cốt cho vong linh là rất quan trọng, vì việc trả lại hình hài nguyên trạng ban đầu như khi chưa từng xảy ra tai họa lớn đối với vong linh khi hồn còn trên dương thế giúp ích rất lớn cho vong trong quá trình tồn tại trong âm giới, để tham gia tu học hoặc làm những việc cần thiết khác được kết quả.


vong hài nhi


Những người bị đau ốm nặng như ung thư, tật nguyền, người uống thuốc độc tự tử…sau khi mất đi thân nhân cũng phải biết tìm cách giải bệnh lưu thân cho vong linh, vì nơi cõi âm không phải bệnh trạng nào cũng được chữa trị.


Vong tồn tại trong thể hình cầu phát sáng khi di chuyển.


Từ độ tuổi hài nhi đỏ cho đến 13 tuổi thường là hình cầu nhỏ phát sáng trắng.


Từ độ tuổi 14 đến 20 tuổi thường là hình cầu màu đen


Từ độ tuổi 21 đến 40 tuổi thường là hình cầu màu vàng


Từ độ tuổi 41 trở lên thường là hình cầu lớn và màu tím


Dạng khối cầu vong linh di chuyển trong ánh sáng, trong không khí, đi theo suy nghĩ của người mong cầu hoặc theo suy nghĩ của chính vong linh. Chẳng hạn nếu vong linh nghĩ đến việc trở về nhà (nơi sống của vong khi hồn còn tại thế) thì lập tức sẽ có mặt tại nơi đó.


Khi có sự linh ứng thì vong xuất hiện rất nhanh chóng, nếu làm một phép so sánh thì chỉ trong vòng 3 bước chân của người cõi trần, vong linh đã có mặt theo tâm nguyện mong cầu của thân nhân (tức là khoảng 2-3 giây) và vong gọi đó là thần thông ba bước.


Trở lại câu chuyện hài nhi đỏ, mặc dù khi chết như trong trạng thái nạo, hút, phá thai bằng những biện pháp cực đoan, nhưng vong vẫn phát triển tư duy theo năm tháng. Ví dụ sau 40 năm (thời gian cõi trần) thì hài nhi đỏ giống như đứa trẻ đã 4 tuổi (thời gian cõi âm). Những vong hài nhi đỏ nếu không được cha mẹ quan tâm (cúng lễ) thì rất oán giận và hay làm tổn thương cha mẹ bằng các chứng bệnh tật, ốm đau.


Bởi vậy những người mẹ có phá bỏ thai (từ độ tuổi có tim thai) mà trải qua thời gian đang mạnh khỏe bỗng nhiên trở nên hay đau yếu lắm bệnh tật thì điều đầu tiên phải nghĩ tới là vong hài nhi đang oán trách, do vậy phải biết con cái mà mình đã bỏ thuộc vào độ tuổi nào để biết cách cúng lễ cho chúng áo quần, đồ ăn thức uống phù hợp thì sẽ khỏi bệnh.


Với những người mẹ, người cha bị vong hài nhi oán giận như thế cũng rất dễ dàng giao lưu với vong con mình trong một số hoàn cảnh và điều kiện quy định.


Xem thêm bài viết: Vong Hài Nhi Đỏ tại Khám Phá 365

Nhân quả báo ứng hiện hữu, nghiệp báo thiện ác

Nhân quả báo ứng - Phật Đà cảnh báo thế nhân: Trong đại dương mênh mông rộng lớn, miếng gỗ đục lỗ tròn trôi dạt vô định. Trong biển sâu có một con rùa mù, một trăm năm nổi lên mặt nước một lần, va phải lỗ hổng miếng gỗ. Khi một người khi mất đi nhân thân, cơ hội có lại được thấp hơn rất nhiều việc con rùa chui Phật Đà cảnh báo thế nhân: Trong đại dương mênh mông rộng lớn, miếng gỗ đục lỗ tròn trôi dạt vô định. Trong biển sâu có một con rùa mù, một trăm năm nổi lên mặt nước một lần, va phải lỗ hổng miếng gỗ. Khi một người khi mất đi nhân thân, cơ hội có lại được thấp hơn rất nhiều việc con rùa chui vào cái lỗ trên miếng gỗ.vào cái lỗ trên miếng gỗ.


Trong kinh tự thánh nhân để lại, chúng ta may mắn được lĩnh hội những giáo điều của Phật Đà và Bồ Tát. Từ những lời khuyên ân cần từ bi, chúng ta được biết đạo lý thế sự.


Khi chúng ta nhìn thấy người đứng đầu của một nước, một tỉnh, một huyện hay vùng đất nào đó, liền có thể biết kiếp trước họ là người quy y Phật Pháp Tăng Tam bảo.


Khi nhìn thấy người giàu có, chúng ta biết họ trước đó họ là người quyên góp cúng bái Phật pháp tăng Tam bảo và quan tâm đến những mảnh đời bất hạnh.


Khi ta thấy người trường thọ, khỏe mạnh thì hiểu họ trước đó luôn tuân thủ lời răn dạy của giới luật.


Còn khi chúng ta nhìn thấy người có diện mạo đoan chính, thần sắc tươi sáng, lời nói hào sảng, nhiều người kính trọng, có thể hiểu họ đã chịu tất cả ủy khuất của đời người, nhưng vui vẻ đối mặt, không có bất cứ oán trách.


Đối với người có vẻ ngoài khoan thai ổn trọng, lời nói và hành động hợp với khuôn phép của người từng được độ pháp sẽ hiểu rõ họ là người có tấm lòng thanh tịnh, hướng tới điều tốt.


nhân quả có thật


Gặp người có trí tuệ, luôn có cái nhìn thấu tình đạt lý đối với mọi việc trên đời, có thể chỉ bảo người khác thay đổi bản thân hướng tới cái thiện, người đời khắc ghi trong lòng lời dạy của họ, liền biết người đó kiếp trước là người thấu triệt Kinh tàng, chăm chỉ học tập và thực hành giáo điều Phật pháp.


Đối diện với người có giọng nói rung động lòng người thì nhận ra rằng âm nhạc và giọng hát của người đó nhận được sự khen ngợi của Phật Pháp Tăng Tam bảo.


Khi thấy người luôn sạch sẽ, không bệnh tật thì hiểu rõ đó là người đó kiếp trước có tấm lòng hướng thiện.


Thấy nhân sĩ có vóc dáng cao lớn, chúng ta biết họ luôn kính cẩn lễ phép đối với thế nhân và thánh thần.


Tuy nhiên, những người có vóc dáng nhỏ bé thì kiếp trước luốn ngạo mạn, coi thường người khác.


Gặp người có tướng mạo xấu xí khó coi, liền biết kiếp trước đức hạnh của họ luôn không tốt, luôn giận dữ hận thù người khác.


Người ngu ngốc kiếp trước luôn không thích đọc sách thánh hiền.Đối với người cứng nhắc ngoan cố và không hiểu biết, kiếp trước chắc chắn không truyền bá những lời răn dạy của bậc thánh hiền.Mỗi khi nhìn thấy người có giọng nói khàn hoặc bị câm thì có thể hiểu người đó kiếp trước luôn phi báng gièm pha mang đến thị phi cho người khác.Khi thấy người làm nô tỳ, chúng ta biết rằng đây là hậu quả do kiếp trước họ vay tiền không trả.


Khi thấy người có vẻ ngoài hèn mọn thấp kém, là do kiếp trước không lễ bái trước Phật đà Quan thế âm Bồ tát và Tăng nhân.


Những người vừa đen vừa xấu kiếp trước luôn thích việc thổi tắt đèn dầu trước ban thờ Phật.


Người vừa điếc vừa mù kiếp trước không thích nghe bậc Thánh hiền giảng kinh.


Còn khi nhìn thấy người thường xuyên trần trụi, không che đậy, liền hiểu người đó kiếp trước mặc hở hang tùy tiện đi lại trước bảo tháp hoặc chùa chiền.


Xem thêm bài viết: Nhân quả báo ứng hiện hữu, nghiệp báo thiện ác tại Khám Phá 365

Điềm báo khi đang ăn bị gãy đũa

Trên khắp đất nước Việt nam, người dân đều sử dụng đũa trên mâm cơm để gắp thức ăn. Việc dùng đũa để gắp thức ăn không những trở thành thói quen bất di bất dịch mà chúng còn là vật dụng không thể thiếu trong những bữa ăn hàng ngày của chúng ta.


Đôi đũa Gỗ


Chất liệu để tạo nên đũa ăn vô cùng đa dạng cũng như muôn hình vạn trang, có thể từ nguyên liệu kim loại như: Vàng, bạc, inox hay đến nay người ta sử dụng những loại nguyên liệu gần gũi với con người hơn như gỗ, tre, trúc ....


Khi còn nhỏ, tay ta chưa quen cầm nắm thì bạn sử dụng thìa, còn khi lớn lên bạn sẽ phải học cách cầm đũa để gắp thức ăn. Vì vậy, đôi đũa dần đã trở thành hình ảnh bình thường không thể thiếu trong cuộc sống của Người Việt Nam.


Việc sử dụng đũa là học cách ăn của những loài chim. Vậy Gẫy đũa là điểm báo gì, Có xui xẻo không ? 


Với niềm tin tâm linh bất diệt của Người Việt Nam từ trước đến nay, thì bất cứ một chuyện gì nhù nhỏ xảy ra thì họ đều cho rằng đây là dấu hieeujc ủa một điềm báo nào đó và gãy đũa cũng không phải là ngoại lệ.

Chính vì vậy, những người đột nhiên bắt gặp trường hợp này, đều thắc mắc rằng: Gãy đũa là điềm báo gì, có xui không?

Có nhiều người cho rằng gãy đũa chính là điềm báo xấu, xui xẻo mà người đó sẽ gặp phải cụ thể là những việc trong gia đình sẽ cãi cọ, không còn hòa thuận với nhau, Đối với Công việc thì sẽ trở nên trắc trỏ, khó khắn.

Tuy nhiên, đây chỉ là sự phán đoán của những người trước đây. Còn việc bạn đang ăn cơm mà đũa gãy thì được coi là bình thường, bởi những chất liệu như gỗ, nhựa khi tác động  một ngoại lực đủ mạnh sẽ khiến chúng bị gãy mà thôi.

Bạn cũng cần phải Lưu ý rằng trong khi ăn uống không nên thực hiện những hành động như sau: 


Khi ăn uống nên hạn chế gõ, khua chén đũa


Không cắm đũa đứng giữa bát cơm. vì đó là hình thức cũng tế, cũng giống như kiểu thắp hương, dễ dẫn dụ ma quỷ vào nhà ăn chung.


Với quan điểm của người viết bài này thì: Gãy đũa là việc bình thường, không phải là vấn đề khiến bạn băn khoăn và lo lắng.


ST


Xem thêm bài viết: Điềm báo khi đang ăn bị gãy đũa tại Khám Phá 365