Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2018

Đi chùa Hà - Hà Nội cầu duyên

Chùa Hà tọa lạc ngay trên phố Chùa Hà thuộc Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội. Đây là ngôi chùa nổi tiếng về cầu duyên tại Hà Nội. Chùa Hà có tên chữ là Thánh Đức tự.


Chùa Hà nổi tiếng là linh thiêng về cầu duyên nên chùa lúc nào cũng đông các nam tuấn nữ tú. Đây là nơi trai chưa vợ, gái chưa chồng đến sắp lễ xin tìm được một nửa của mình. Những đôi yêu nhau cũng đến chắp tay thành kính cầu cho tình duyên trăm năm hạnh phúc.


Trong giới trẻ, còn lan truyền những tin đồn về sự linh ứng của ngôi chùa này: Nào là trai gái độc thân đến đây xin cầu duyên đều nhanh chóng tìm đuợc ý chung nhân của mình. Thậm chí có những bạn còn khăng khăng kéo người yêu mình đến đây thề yêu nhau, vì đã thể ở đây rồi sẽ không bao giờ thay lòng đổi dạ. Chính điều đó, khiến chùa Hà trong tư tưởng của những người đến cầu càng mang đậm nét huyền bí linh thiêng. Ai đã một lần đến đây thắp hương, xin đài xin lộc đều mang trong mình một niềm tin vào sự linh ứng.


Tuy vậy, ngoài tin đồn cầu duyên linh thiêng, chùa Hà cũng được cho là nơi chỉ cầu được duyên chưa đến, chứ nếu duyên đến rồi, thì không nên cầu. Bởi có rồi mà cầu thì chỉ có… tan mà thôi.


Truyền thuyết về Chùa Hà. Có hai truyền thuyết về Chùa Hà:


Truyền thuyết thứ nhất: Vào thời vua Lý Thánh Tông (1054 – 1072). Khi ấy nhà vua đã ngoài 40 tuổi mà chưa có con nên đi đến một ngôi chùa trên vùng Dịch Vọng ngày nay để cầu tự, sau đó sinh ra Thái tử Càn Đức, sau này lên ngôi lấy hiệu là Lý Nhân Tông. Ngôi chùa nhà vua đến về sau đổi tên thành chùa Thánh Chúa. Trên đường về nhà vua lại ghé thăm một ngôi chùa khác và ban tiền để sửa chùa. Ngôi chùa khác ấy chính là chùa Hà ngày nay. Cũng vì thế, chùa có tên chữ là: Thánh Đức tự.


Truyền thuyết thứ hai: Chùa Hà được xây dựng lên để vua Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497) bày tỏ lòng nhớ ơn các đại thần Nguyễn Trãi, Nguyễn Xí, Đinh Liệt đã cưu mang mình và phế bỏ Lê Nghi Dân để đưa mình lên ngôi vua vào năm 1460.


Đến đời vua Lê Hy Tông (1675-1705) có hai người quê làng Thổ Hà tỉnh Bắc Giang sang ở chùa để bán các đồ gốm sứ ở chợ trong và ngoài thành Thăng Long. Nhờ buôn bán phát đạt, hai gia đình này tình nguyện công đức số tiền lớn cùng nhân dân trong xóm xây dựng lại chùa với quy mô lớn bằng gạch ngói vào năm Chính Hòa (1680).


Từ đó hai làng Thổ Hà và Dịch Vọng Trung kết nghĩa, đặt tên xóm có ngôi chùa là Bối Hà và chùa có tên nôm là chùa Hà. Đến ngày kỵ hàng tháng, hàng năm ở Thổ Hà, nhân dân xóm Bối Hà cử đoàn đại biểu sang lễ và ngược lại.


Hiện nay, lăng mộ thờ hai gia đình vẫn được lưu giữ trong chùa.


Không gian tâm linh của chùa Hà


Chùa Hà hiện nay là một quần thể bao gồm: Chùa Hà, Đình Hà và Điện Mẫu.




[caption id="attachment_1047" align="aligncenter" width="600"] Tiền đường chùa Hà[/caption]

Sau cổng tam quan của Chùa Hà là vườn cây xanh, hồ nước hình bán nguyệt, cây đa và sân chùa. Bên cạnh hồ nước là bia đá bốn mặt Thánh Đức tự bi mới được phục chế gần đây . Ở bên phải trước cửa chùa đặt 18 tấm bia hậu được tạo vào cuối thời Nguyễn ghi việc tu sửa và gửi hậu tại chùa.


Chùa Hà nhìn ra hướng tây, chùa chính kết cấu kiểu chữ Đinh có Tiền đường và Thượng điện, tam bảo năm gian rộng. Tòa phật điện của chùa được bố trí theo nhiều lớp. Đức Ông chùa Hà rất linh thiêng nên dân quanh vùng có câu: "Đức Ông chùa Hà, Đức Bà chùa Hương".


Phía sau chính điện của chùa là Điện Mẫu. Kiến trúc Điện Mẫu bao gồm phía trước là phương đình, phía sau là Thần điện.


Đình Hà nằm bên phải Chùa Hà. Đình Hà được thờ 2 vị thành hoàng là Triệu Chí Thành và Chu Lý, các tướng của Triệu Việt Vương (thế kỷ VI) có công chống giặc Lương.


Không gian cụm di tích Chùa Hà có rất nhiều cây cổ thụ. Nơi đây, còn có mấy cây đa có nguồn gốc Ấn Độ luôn xanh tốt, rợp bóng sân chùa, đã nhiều lần tỉa bớt cành những vẫn xòe tán rất rộng. Phía trước sân chùa là một chiếc ao hình bán nguyệt, được bao phủ bới nhiều cây xanh.


Chùa có một khuôn viên rộng, có ghế đá cho du khách dừng chân. Đến với Chùa Hà ta có thể tìm ở nơi đây một cảm giác yên tĩnh, thanh tịnh giữa lòng Thủ đô.


Một điểm đặc biệt nữa, dọc con phố dẫn vào chùa Hà chỉ bán hoa hồng, loài hoa tượng trưng cho tình yêu. Các hàng lưu niệm quanh chùa cũng bán rất nhiều vòng, nhẫn… mà cái nào cũng đi theo đôi, theo cặp…


Đi chùa Hà cầu duyên như thế nào


Đến cầu duyên ở chùa Hà rất đơn giản, bạn nhờ các ông lão ngoài cửa chùa viết sớ (3 tờ sớ đặt ở 3 ban), rồi mua thêm hoa hồng (3 bông, cầu duyên thì mua hoa, cầu cái khác thì không cần), bánh kẹo hoặc hoa quả gì đó, đặt lên ban rồi khấn thôi.


Tuy nhiên, bạn nên lưu ý đặt lễ ở bàn thờ Mẫu, không được đặt ở của Tam Bảo.


Tất nhiên, có sớ rồi thì mình vẫn phải khấn. Chỉ lưu ý rằng bạn cần thật thành tâm, cầu bằng chính cái tâm của mình. Chùa Hà cầu duyên là do mọi người truyền tai nhau, việc linh thiêng ở ngôi chùa này thì vẫn còn chưa được nhiều người chứng minh. Dù thế, khi đến Chùa Hà hay bất cứ ngôi chùa nào bạn cũng nên dâng hương bằng tâm thành của mình.


Lê Hồng Thái



Khám phá & Chia sẻ Đi chùa Hà - Hà Nội cầu duyên tại Ngôi nhà Tâm Linh

Thứ Năm, 17 tháng 5, 2018

Bùa đậu đỏ - đuổi vận xui, chiêu vận may

Không chỉ là một loại đậu dùng để nấu chè, nấu cháo, bùa đậu đỏ còn có nhiều công dụng phong thủy mà chắc chắn các bạn sẽ vô cùng tiếc nuối vì không biết những điều này sớm hơn.



Đậu đỏ là loại hạt chứa nhiều chất dinh dưỡng không còn xa lạ với chúng ta. Nhắc đến đậu đỏ, người ta nghĩ ngay đến các món chè giải nhiệt ngày hè như chè đậu đỏ nếp cẩm, sữa đậu đỏ mật ong, nước hầm đậu đỏ, mochi đậu đỏ... hay các món ăn thơm ngon trên mâm cơm gia đình như đậu đỏ hầm sườn non, xôi đậu đỏ,...


Tuy nhiên, ngoài làm thực phẩm bổ dưỡng, bùa đậu đỏ còn một công dụng tuyệt vời nữa mà ít người biết đến. Đây chính là một loại vật phẩm phong thủy được tin là rất hiệu nghiệm mà nhiều người áp dụng.


Theo quan niệm dân gian, đậu đỏ không chỉ giúp bạn tránh được những điều xui rủi, mà còn giúp con đường tình duyên của bạn gặp nhiều may mắn. Nếu ăn đậu đỏ hoặc mang theo đậu đỏ bên mình thì sẽ nhanh chóng gặp được "ý trung nhân", nên duyên vợ chồng và sống cả đời hạnh phúc bên nhau.


Với màu đỏ tượng trưng cho sự tốt lành, vui vẻ, đậu đỏ được xem là một trong những vật phong thủy mang lại may mắn. Theo các chuyên gia phong thuỷ, đậu đỏ không chỉ thu hút thêm nhiều tài lộc cho ngôi nhà của bạn, mà còn xua đi tất cả những vận rủi đang đeo bám.


Ngoài ra loại đậu "thần thánh" này sẽ giúp "hóa hung thành cát", kéo tài lộc về nhà và giúp mọi công việc đều thuận lợi.


ST


Xem thêm bài viết: Bùa đậu đỏ - đuổi vận xui, chiêu vận may tại Khám Phá 365

Sữa chua dê | Sữa chua Ba Vì | Milk100

Bùa đậu đỏ - đuổi vận xui, chiêu vận may

Không chỉ là một loại đậu dùng để nấu chè, nấu cháo, bùa đậu đỏ còn có nhiều công dụng phong thủy mà chắc chắn các bạn sẽ vô cùng tiếc nuối vì không biết những điều này sớm hơn.


Đậu đỏ là loại hạt chứa nhiều chất dinh dưỡng không còn xa lạ với chúng ta. Nhắc đến đậu đỏ, người ta nghĩ ngay đến các món chè giải nhiệt ngày hè như chè đậu đỏ nếp cẩm, sữa đậu đỏ mật ong, nước hầm đậu đỏ, mochi đậu đỏ... hay các món ăn thơm ngon trên mâm cơm gia đình như đậu đỏ hầm sườn non, xôi đậu đỏ,...


Tuy nhiên, ngoài làm thực phẩm bổ dưỡng, bùa đậu đỏ còn một công dụng tuyệt vời nữa mà ít người biết đến. Đây chính là một loại vật phẩm phong thủy được tin là rất hiệu nghiệm mà nhiều người áp dụng.


Theo quan niệm dân gian, đậu đỏ không chỉ giúp bạn tránh được những điều xui rủi, mà còn giúp con đường tình duyên của bạn gặp nhiều may mắn. Nếu ăn đậu đỏ hoặc mang theo đậu đỏ bên mình thì sẽ nhanh chóng gặp được "ý trung nhân", nên duyên vợ chồng và sống cả đời hạnh phúc bên nhau.


Với màu đỏ tượng trưng cho sự tốt lành, vui vẻ, đậu đỏ được xem là một trong những vật phong thủy mang lại may mắn. Theo các chuyên gia phong thuỷ, đậu đỏ không chỉ thu hút thêm nhiều tài lộc cho ngôi nhà của bạn, mà còn xua đi tất cả những vận rủi đang đeo bám.


Ngoài ra loại đậu "thần thánh" này sẽ giúp "hóa hung thành cát", kéo tài lộc về nhà và giúp mọi công việc đều thuận lợi.


ST



Khám phá & Chia sẻ Bùa đậu đỏ - đuổi vận xui, chiêu vận may tại Ngôi nhà Tâm Linh

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

Đền Mẫu Đông Cuông - Yên Bái

Đền Mẫu Đông Cuông là một trong các nơi khởi đầu của phong trào tục thờ Mẫu Việt Nam. Đến nay đền đã được xây dựng lại khang trang bề thế. Đền Mẫu Đông Cuông được coi là đền thờ chính của Mẫu Thượng Ngàn – Mẫu thứ hai trong Tam Tòa Thánh Mẫu..


Đền Mẫu Đông Cuông cách thành phố Yên Bái hơn 50 km về phía Tây Bắc, thuộc xã Đông Cuông, huyện Văn Yên, tỉnh Lào cai. Đền Mẫu Đông Cuông thờ Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn và thờ thần Vệ Quốc và các vị anh hùng dân tộc trong kháng chiến chống giặc Nguyên, chống Pháp.


Trước đây đền có tên là “Đền Đông”, “Đền Mẫu Đông”, hay còn gọi là “Đông Quang linh từ”, còn bây giờ được gọi là “Đền Mẫu đệ nhị Thượng Ngàn”.


Từ lâu, Đền Mẫu Đông Cuông xã Đông Cuông nổi tiếng là ngôi đền linh thiêng, thờ Mẫu Thượng Ngàn, hàng năm thu hút đông đảo nhân dân cả nước đến dâng hương, vãn cảnh đền và cầu nguyện cho mình và người thân một năm gặp nhiều may mắn…


Đền Mẫu Đông Cuông đã có từ lâu đời, và là một trong hai ngôi đền lớn ở thượng lưu sông Hồng, thuộc địa phận xã Đông Cuông, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Đền được xây dựng ở nơi có phong cảnh sơn thủy hữu tình, núi sông hòa hợp nên vừa là di tích, vừa là thắng cảnh đẹp của tỉnh.


Đền Mẫu Đông Cuông thờ ai : bên cạnh việc phụng thờ Mẫu Thượng Ngàn, trong đền còn thờ các vị có công với nước trong cuộc chiến chống giặc Nguyên - Mông vào thế kỷ 13, đó là một số vị tướng người dân tộc ở địa phương, nên ngôi đền này còn có tên gọi là đền thờ thần Vệ quốc.



Theo Đại Nam nhất thống chí, Đền Đông Cuông thờ Cao Quan Đại Vương, huý là Thổ Lệnh và Thạch Khanh, đã có công chu du thiên hạ, tìm phương thuốc quí để chữa bệnh cho nhân dân. Đến khi mất lại rất linh ứng, ngầm theo để giúp các vị tướng lĩnh đánh giặc ngoại xâm bảo vệ biên cương, được nhân dân suy tôn, vua gia phong là “Thần vệ quốc” và đã hoá thân thành Mẫu Thượng Ngàn, là người mẹ của vũ trụ. Năm 1258, nghĩa quân của tướng Hà Đặc sau khi thắng trận đã tập kết quân tại đền Đông Cuông và tổ chức mổ trâu khao quân.


Trải qua các thời kỳ lịch sử dân tộc chống giặc ngoại xâm Đền Mẫu Đông Cuông còn tôn thờ thêm các vị anh hùng dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thế kỷ XVIII và các vị Thủ lĩnh người Tày trong cuộc khởi nghĩa Giáp Dần của người Dao – Tày 1913 – 1914 đã hi sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Pháp.


Trải qua những thăng trầm lịch sử và sau nhiều năm tôn tạo, ngày nay kiến trúc đền Đông Cuông mang dáng dấp kiến trúc đền chùa thời Lý Trần, với mái ngói cong và hình lưỡng long chầu nhật. Các cột đền làm bằng gỗ tứ thiết, được sơn son thếp vàng hình rồng cuốn trang nghiêm. Trên các đầu dư, đầu bẩy, xà ngang, cốn nách, câu đầu... đều được chạm khắc tỉ mỉ theo các chủ đề tứ linh và hoa lá, đạt trình độ cao về kỹ thuật phục chế và mỹ thuật.


- Mặt đền Đông Cuông quay về phía Nam, có địa thế hướng sông tựa núi với cảnh sắc thiên nhiên đẹp như tranh thủy mặc. Con đường dốc độc đạo chạy từ phía Đông lên đền, uốn lượn quanh co như vắt ngang lưng chừng núi khiến khung cảnh càng thêm thâm nghiêm, tĩnh mịch. Khuôn viên quanh đền rộng mở, với cây cối sum xuê tỏa bóng mát, điểm xuyết những vạt rừng đào, rừng mận... khoe sắc thắm mỗi khi đến mùa hoa nở rộ.



Với tín ngưỡng thờ Mẫu và các anh hùng có công với đất nước, ngôi đền mang đậm truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc. Ngày 3 tháng 2 năm 2009, đền Đông Cuông Yên Bái đón nhận bằng công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia, trở thành điểm du lịch về nguồn ý nghĩa.


Sự anh linh của Mẫu Thượng Ngàn


Sử sách truyền lại rằng chiến công của nhiều triều đại Việt Nam có sự phù hộ của Mẫu Thượng Ngàn. Vua Lê Lợi là người đã sắc phong Mẫu Thượng Ngàn là Lê Mại Đại Vương. Tích sắc phong này là: Vào thời đầu khởi nghĩa, nghĩa quân Lam Sơn bị vây khốn ở Phản Ẩm. Khi tình thế nguy cấp. Mẫu Thượng Ngàn đã hóa thành ngọn đuốc lớn, soi đường quân sĩ thoát vây. Trong suốt cuộc chiến, vua Lê luôn được sự che chỏ của Mẫu. Vì thế, sau khi cuộc khởi nghĩa vua Lê đã ra sắc phong để phong cho Mẫu là Lê Mại Đại Vương.


Một số huyền tích về Đền Mẫu Đông Cuông


1. “Trong Kiến Văn Tiểu Lục quyển X mục “Linh tích” thời hậu Lê, cụ Lê Quý Đôn viết:


“Văn Châu, một người thuyền hộ xã Kính Chủ, huyện Thanh Ba (nay thuộc địa phận Lâm Thao- Phú Thọ) là học trò Hiệu như Nguyễn Đình Kính. Giữa niên hiệu Bảo Thái (1720 – 1729) đi buôn ở Đông Quang (nay thuộc huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái) bến sông này có miếu thờ Đông Quang Công Chúa vẫn nổi tiếng anh linh. Tục truyền Công Chúa là vợ Đại vương miếu Ngọc Tháp huyện Sơn Vi (sau đổi là huyện Lâm Thao).


Một hôm trời đã tối, Văn Châu thấy một người từ trong miếu Đông Quang đi ra đến chỗ thuyền đỗ, gọi tên mình và bảo rằng: “Khi thuyền nhà ngươi trở về qua miếu Ngọc Tháp, phiền nhà ngươi nói giúp là kính tạ Đại vương, Chúa bà đã sinh con trai rồi, gửi lời về báo để đại vương biết”. Nói xong liền biến mất. Đường thuỷ mà thuyền buồm đi từ Đông Quang đến Ngọc Tháp phải ba, bốn ngày, thế mà ngày hôm ấy, Văn Châu bắt đầu đi từ sáng sớm mà đến giờ Thân đã tới Ngọc Tháp (chỗ này núi đá mọc nhô ra bến sông như hình ruột ốc, miếu ở trên núi, bên cạnh miếu có chùa Lăng Nghiêm) Văn Châu theo lời thầy dặn, đứng ở đầu thuyền nói lại rồi đi”.


2. Thần Tích của dòng mo họ Hà coi việc giữ đền và tế tự chép:


” Đông Quang Công Chúa là Lê Thị Kiểm. Bà là vợ ông Hà Văn Thiên, người Tày Đông Cuông được triều đình giao cai quản vùng Đông Cuông và ngoại vi. Ông Thiên, hậu duệ của Hà Đặc, Hà Bổng (Trại chủ Quy Hoá) bị hy sinh trong chiến tranh chống quân Nguyên. Ông bà sinh hạ được một con trai. Khi Ông tạ thế, bà Kiểm và con trai ở lại Đồng Cuông rồi mất tại đấy. Dân lập miếu thờ ông bên Ghềnh Ngai (hữu ngạn sông Hồng) và thờ hai mẹ con bà bên tả ngạn, đối diện với miếu”.


3. Trong nhân dân hai xã Đông Cuông và Ngòi A lưu truyền một huyền thoại:


Ở xóm Đá Ôm, thôn Đồng Dẹt, xã Đông Cuông có một giếng nước sâu trong vắt. Giếng ở chân gò, nơi chúa họ Cầm ở (tù trưởng bộ tộc Tày). Một hôm, con gái tù trưởng là Cầm Thị Lả (Cầm Thị Lê) ra giếng gội đầu. Lỡ tay đánh rơi lược xuống giếng, nàng vội nhào theo vớt lược. Lược chẳng thấy chỉ thấy đáy giếng lộ ra một con đường rộng, sâu hút. Nàng theo đường ấy, đi mãi đến Thuỷ Cung rồi gặp Long Vương lấy làm chồng và sinh hạ được một con trai. Nhớ nhà, nàng bế con trở lại dương thế và hứa với Long Vương hàng năm sẽ xuống thăm chồng một lần và chỉ đi một mình không đem con đi cùng. Giếng Đồng Dẹt trở thành giếng thần. Tháng Giêng ngày mão, xã chọn thanh niên chưa vợ đi tát sạch giếng để lọc lấy nước trong thanh khiết cúng lễ.


Ngoài ra, vào ngày Mão đầu tiên của năm mới, nơi đây sẽ diễn ra lễ hội đền Đông Cuông, thu hút đông đảo du khách thập phương đến chiêm bái, cầu tài cầu lộc đầu xuân và một năm mưa thuận gió hòa. Trong dịp lễ hội còn có nhiều hoạt động văn hóa dân gian và giải trí sôi động.


Tham khảo: Các ngày tiệc của tứ phủ Công đồng.

Khám phá & Chia sẻ Đền Mẫu Đông Cuông - Yên Bái tại Ngôi nhà Tâm Linh

Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2018

Tết Nguyên Tiêu (Tết Thượng Nguyên) và Bài Cúng

Tết Nguyên Tiêu (Rằm Tháng Giêng) là ngày lễ hội cổ truyền tại Trung Quốc và là tết Thượng Nguyên tại Việt Nam. Lễ hội trăng rằm từ giữa đêm 14 (đêm trước trăng rằm) trọn ngày 15 (ngày rằm) cho đến nửa đêm 15 (đêm trăng rằm) của tháng giêng Âm lịch.


Dân gian ta có câu: Lễ Phật quanh năm không bằng Rằm tháng Giêng. Cho thấy đây là một trong những nghi lễ quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt Nam.


Ngày rằm Tháng Giêng là dịp dân chúng lên chùa cúng sao giải hạn, ước nguyện điều lành, tuy kinh điển nhà Phật không nói đến.


Dưới đây là bài khấn cúng Rằm tháng Giêng theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam, các gia đình có thể thảm khảo:


Nam mô A Di Đà Phật!


Nam mô A Di Đà Phật!


Nam mô A Di Đà Phật!


– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.


– Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.


– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.


– Con kính lạy Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại.


Tín chủ (chúng) con là: ………………………………………..


Ngụ tại:………………………………………. ……………………..


Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm ……. gặp tiết Nguyên tiêu, tín chủ con lòng thành, sửa sang hương đăng, sắm sanh lễ vật, dâng lên trước án.


Chúng con kính mời ngày Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài Thần. Cúi xin các ngài linh thiêng nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.


Chúng con kính mời các các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ………………. nghe lời khẩn cầu, kính mời của con cháu, giáng về chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.


Tín chủ con lại kính mời Ông bà Tiền chủ, Hậu chủ tại về hưởng lễ vật, chứng giám lòng thành phù hộ độ trì cho gia chung chúng con được vạn sự tôn lành. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng an bình.


Nam mô A Di Đà Phật!


Nam mô A Di Đà Phật!


Nam mô A Di Đà Phật!


Khấn xong, vái 3 vái.



Khám phá & Chia sẻ Tết Nguyên Tiêu (Tết Thượng Nguyên) và Bài Cúng tại Ngôi nhà Tâm Linh

Tết Nguyên Tiêu (Tết Thượng Nguyên) và Bài Cúng

Tết Nguyên Tiêu (Rằm Tháng Giêng) là ngày lễ hội cổ truyền tại Trung Quốc và là tết Thượng Nguyên tại Việt Nam. Lễ hội trăng rằm từ giữa đêm 14 (đêm trước trăng rằm) trọn ngày 15 (ngày rằm) cho đến nửa đêm 15 (đêm trăng rằm) của tháng giêng Âm lịch.


Dân gian ta có câu: Lễ Phật quanh năm không bằng Rằm tháng Giêng. Cho thấy đây là một trong những nghi lễ quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt Nam.


Ngày rằm Tháng Giêng là dịp dân chúng lên chùa cúng sao giải hạn, ước nguyện điều lành, tuy kinh điển nhà Phật không nói đến.


Dưới đây là bài khấn cúng Rằm tháng Giêng theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam, các gia đình có thể thảm khảo:


Nam mô A Di Đà Phật!


Nam mô A Di Đà Phật!


Nam mô A Di Đà Phật!


– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.


– Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.


– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.


– Con kính lạy Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại.


Tín chủ (chúng) con là: ………………………………………..


Ngụ tại:………………………………………. ……………………..


Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm ……. gặp tiết Nguyên tiêu, tín chủ con lòng thành, sửa sang hương đăng, sắm sanh lễ vật, dâng lên trước án.


Chúng con kính mời ngày Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài Thần. Cúi xin các ngài linh thiêng nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.


Chúng con kính mời các các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ………………. nghe lời khẩn cầu, kính mời của con cháu, giáng về chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.


Tín chủ con lại kính mời Ông bà Tiền chủ, Hậu chủ tại về hưởng lễ vật, chứng giám lòng thành phù hộ độ trì cho gia chung chúng con được vạn sự tôn lành. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng an bình.


Nam mô A Di Đà Phật!


Nam mô A Di Đà Phật!


Nam mô A Di Đà Phật!


Khấn xong, vái 3 vái.



Khám phá & Chia sẻ Tết Nguyên Tiêu (Tết Thượng Nguyên) và Bài Cúng tại Ngôi nhà Tâm Linh

Thứ Tư, 14 tháng 2, 2018

Văn khấn lễ Tất Niên ngày tết

Tất niên thường diễn ra vào buổi chiều và buổi tối ngày 30 tết, người ta làm cỗ cúng tất niên sau đó dọn tiệc mời khách đến dự. Tất niên là lúc mọi người quây quần bên nhau và bên những món thức ăn và cùng chào đón năm mới, giao thừa là một phong tục tập quán lâu đời của người Việt Nam, nó mang nét đẹp văn hóa lâu đời của người Việt Nam.


Tất niên hay cúng Tất niên, Lễ tất niên, tiệc Tất niên là một nghi thức nhằm ghi nhận việc kết thúc một năm và chuẩn bị bước sang năm mới. Là một phần trong nghi thức Tết diễn ra vào những ngày cuối năm âm lịch, từ ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu) được gọi là ngày Tất niên.


Đây là ngày các thành viên trong gia đình sum họp lại với nhau để ăn cơm buổi tất niên. Ngoài ra, tùy vào phong tục tập quán ở mỗi vùng, việc cúng tất niên có thể được gia chủ mời thêm bạn bè và người thân đến dự.


Mâm cơm cúng ngày Tết gồm những món nào
Với những khu vực, vùng miền khác nhau thì những món ăn trên mâm cơm cúng gia tiên cũng khác nhau.


Mâm cơm cúng miền Bắc:


Với người miền Bắc, ẩm thực là thứ không thiếu thiếu trong những đám giỗ hay ngày lễ tết quan trọng. Trên bàn thờ thì mâm cơm cúng gia tiên nhất định sẽ có những món sau:


- Cơm trắng


- Xôi gấc (xôi vò)


- Giò chả


- Thịt quay


- Chân giò hầm măng hoặc mộc nhĩ


- Gà luộc


- Miến xào lòng gà


- Nộm


- Rau xào (tùy theo mùa nào thì có món rau đó)


- Nem rán


Trên đây là những món ăn thường có trong mâm cơm cúng ở miền Bắc, thông thường sẽ không thể thiếu được món xôi gà. Gà được chọn để cúng phải là gà trống, mới tập gáy và đạt trọng lượng từ 1,2kg đến 1,5kg là đẹp nhất. Không nên chọn những con gà quá to, thì bày trí không được đẹp mắt. Gà lúc làm thịt xong sẽ được tạo dáng sao cho đẹp mắt và bắt buộc phải luộc riêng cùng với bộ lòng mề và tiết để mang thờ cúng.


Mâm cơm cúng miền Trung:


Đối với những người dân miền Trung, tuy thường xuyên chịu nhiều thiên tai, gặp nhiều khó khăn hơn những vùng khác, nhưng ẩm thực ở đây cũng phong phú không kém với những món ăn đặc trưng có trên mâm cơm cúng gia tiên như sau:


- Xôi vò, xôi lạc


- Gà luộc ( nếu không có gà thì thay thế bằng Thịt heo luộc)


- Rau xào


- Cá thu kho khúc


- Canh xương hầm rau củ


- Thịt kho tiêu


Mâm cơm cúng miền Nam:


Trong các dịp lễ, con cháu là người hiểu rõ nhất ông bà mình thích những món gì, khẩu vị ra làm sao? Người dân miền Nam khá chú trọng với việc gia vị và nêm nếm thức ăn. Dân gian ta có câu “ục và “Trần sao âm vậy” ý chỉ sinh hoạt ở trên gian và ở âm giới cũng giống nhau. Mỗi mâm cơm cúng của các gia đình người miền Nam đều có 4 món chính như sau:


- Món kho thường là thịt kho tàu, hay cá lóc kho với nước dừa mang đậm hương vị miền Nam


- Thịt ba chỉ luộc xắt miếng mỏng


- Món hầm thường là thịt heo hầm măng


- Món xào tuyệt đối không dùng thịt rừng mà thường có các món nhưng xào chua, xào mặn.


Những kiêng kị khi làm mâm cơm cúng


Khi làm mâm cơm cúng gia tiên, thường không bày bằng mâm cao cỗ đầy mà do tấm lòng thành của gia chủ. Biết những món ăn ưa thích của người trên, với những điều kiêng kị cũng như tôn trọng bề trên thì khi làm mâm cơm cúng người ta thường:


- Không nêm nếm thức ăn, hay ăn thử thức ăn dùng để làm cơm cúng gia tiên


- Trên mâm cơm cúng gia tiên không chứa những món gỏi, sống hay tanh


- Không cúng như món như cá mè, cá sông.


- Mâm cơm cúng phải được đặt riêng, bày trên những bát đĩa, đĩa mới, hoặc để dùng riêng, không dùng chung với chén đũa thừa ngày sử dụng.


- Không sử dụng đồ đóng hộp, các món ăn đặt sẵn ngoài nhà hàng để thờ cúng.


VĂN KHẤN LỄ TẤT NIÊN ngày 30 Tết (Theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam - NXB Văn hóa - Thông tin):


Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần)


- Con kính lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.


- Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu Thổ, chư vị Tôn thần.


- Con kính lạy ngài Kim niên Đương cai Thái Tuế chí đức tôn thần.


- Con kính lạy các ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.


- Con kính lạy ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa tôn thần.


- Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ Thổ, Long mạch, Tài thần, Bản gia Táo quân, cùng tất cả các vị thần linh cai quản trong xứ này.


- Con kính lạy các Chư chân linh gia tiên tiền tổ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, ,bá thức, huynh đệ, cô di tỷ muội, bà cô, ông mãnh, cô cậu tại gia, đẳng đẳng các chư Tiên linh nội ngoại họ hàng, các chi, các phái, các nghành...


Hôm nay là ngày 30 tháng Chạp năm ĐINH DẬU


Tín chủ (chúng) con là: ...


Ngụ tại...


Trước án kính cẩn thưa trình: Đông tàn sắp hết, năm kiệt tháng cùng, xuân tiết gần kề, minh niên sắp tới.


Chúng con cùng toàn thể gia quyến sắm sanh phẩm vật hương hoa, cơm canh thịnh soạn, sửa lễ tất niên, dâng cúng Thiên Địa tôn thần, phụng hiến Tổ tiên, truy niệm chư linh.


Theo như thường lệ tuế trừ cáo tế, cúi xin chư vị tôn thần, liệt vị gia tiên, bản xứ tiền hậu chư vị hương linh giáng lâm án toạ, phủ thuỳ chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ toàn gia lớn bé trẻ già bình an thịnh vượng, bách sự như ý, vạn sự tốt lành, luôn luôn mạnh khoẻ, gia đình hoà thuận. ( muốn gì thì cầu xin thêm)


Thành tâm bái thỉnh, cúi xin chư vị tôn thần và gia tiên nội ngoại chứng giám phù hộ độ trì.
Âm phù Dương trợ cho chúng con, nghinh đón tân xuân, Lộc tài vượng tiến, đi tươi về tốt, đi một về mười, gặp chúng gặp bạn, gặp vạn sự lành, sở nguyện như ý, sở cầu tòng tâm


Chúng con người Trần mắt thịt, ăn chưa sạch, Bạch chưa thông...... Dãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám


Cẩn cáo



Khám phá & Chia sẻ Văn khấn lễ Tất Niên ngày tết tại Ngôi nhà Tâm Linh