Thứ Tư, 20 tháng 9, 2017

Bà Cô Tổ - Ông Mãnh Tổ của dòng họ là ai ?

Trên ban thờ tổ tiên của gia đình bạn thường có bát hương của bà Cô. Trong một dòng họ có rất nhiều bà cô, ông mãnh chết trẻ nhưng không phải bà cô, ông mãnh nào cũng được gọi là bà cô tổ và ông mãnh tổ. 


BÀ CÔ TỔ


Nhiều người đã được biết và tiếp xúc với bà Cô Tổ của dòng họ qua việc gọi Hồn, nhưng có người vẫn không rõ mối quan hệ như thế nào và tại sao lại gọi là bà Cô Tổ.



Nay giải thích như sau:


Tổ ở đây là Tổ tiên, nghĩa là Gia Tiên tiền tổ, Cô là người phụ nữ chưa lấy chồng .


Vậy Bà Cô Tổ được hiểu là :


Hội Đồng Gia Tiên tiền tổ đề cử ra một người nữ nhận lĩnh nhiệm vụ quán xuyến, trông nom, theo dõi, để ý các công, các việc của họ hàng, của các con, các cháu ở trên cõi Trần và tùy duyên độ trì che chở, người đó được gọi là bà Cô Tổ.


Người đảm nhận cương vị bà Cô Tổ phải thỏa mãn hai điều kiện:


1.Là người nữ, chưa lấy chồng, bị mất khi còn trẻ tuổi (Cũng có cả trường hợp vài tháng tuổi)


2.Vong linh ở nơi cõi Âm có duyên tu tập theo đạo Mẫu (đạo Tiên) hoặc theo đạo Phật. Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ là bà Cô Tổ không đi theo đạo nào, thậm chí có bà Cô Tổ còn bị giam giữ ở nơi địa ngục)


Nói về mối quan hệ thì có thể đối với người này bà Cô Tổ ở đời thứ tư (Gọi là Cụ – Tứ đại), nhưng đối với người khác thì bà Cô Tổ có thể chỉ là em gái của Bố (gọi là Cô). Với người khác nữa quan hệ có thể chỉ gọi bằng Bác. Hoặc xa hơn nữa thì bà Cô Tổ có thể đã thuộc đời thứ 6,7 (Lục, Thất đại)…vv. Nhưng dù mối quan hệ là thế nào đi nữa thì cũng vẫn gọi chung là bà Cô Tổ vì danh hiệu của bà là như vậy.


Danh hiệu khác ngoài bà Cô Tổ :


Trong một số trường hợp bà cô tổ dòng họ có theo đạo mẫu (đạo tiên), nếu theo hầu các bà Chúa (Ví dụ Bà chúa thượng ngàn, Bà chúa thoải phủ) thì bà Cô Tổ có thêm danh hiệu mới là Chúa Cô Tổ.


Nếu theo hầu các Chầu (ví dụ Chầu bé Bắc Lệ, Chầu Chín….) thì bà Cô Tổ có thêm danh hiệu là Chầu Cô Tổ. Nếu Cô Tổ mang hai danh hiệu trên lại có tu tập tốt, thì trong thế kỷ tâm linh hiện nay còn được “bề trên“ giao phó cho nhiệm vụ chấm đồng bắt lính con cháu. Đây hiểu là con cháu có duyên nợ với Tứ phủ hoặc Phật đạo thì bà cô tổ thuận theo đó để mà khai sáng, giác ngộ, hướng dẫn, dạy bảo, đưa đường chỉ lối…cho con cháu theo đường tu cho đúng với phận số. Bởi vậy có người mệnh kim chi đôi nước trong vấn hầu tiên thánh còn hầu cả Cô Tổ nhà mình.


Trong gia đình nhà nào cũng có thờ cúng bà Cô Tổ. Có thể lập bát hương riêng hoặc lập một ban thờ riêng tùy theo điều kiện hoàn cảnh và tùy theo yêu cầu của bà Cô Tổ.


ÔNG MÃNH TỔ


Người ta thường hay quan tâm, kêu cầu, nhắc tới bà Cô Tổ dòng họ chứ không mấy khi quan tâm, tìm hiểu mãnh tổ dòng họ. Vậy mãnh tổ của dòng họ là ai?


Mãnh tổ dòng họ là người nam chết trẻ còn chưa lập gia đình, độ tuổi từ 13 tuổi trở lên hoặc là người đàn ông sống độc thân khi chết trung tuổi hoặc cao tuổi.


Ông mãnh tổ không do Hội Đồng Gia Tiên của dòng họ bầu cử ra mà do Hội Đồng Quan Sai Địa Phủ chỉ định. Mãnh tổ là người tu tập theo đạo Phật hoặc đạo Tiên (Mẫu), chịu trách nhiệm giám sát, quản lý, giúp đỡ các vong linh gia tiên tiền tổ ở nơi địa phủ.


Mãnh tổ chỉ có thể làm Phán Quan (Phán Quan điện ngục hoặc Phán Quan địa ngục) hoặc Hành Sai địa phủ chứ không nắm giữ bất cứ cương vị nào khác. Bởi vậy khi một người thân mất đi, cúng vong 49 ngày hoặc 100 ngày thường trong sớ Gia Tiên bao giờ cũng phải thỉnh đến ông Mãnh Tổ dòng họ…


Trong những trường hợp đặc biệt, mãnh tổ của dòng họ có thể bị giam cầm nơi địa ngục do những tội lỗi gây ra khi hồn tiền dương thế, lúc này vong chưa thể tu học, tuy nhiên nếu được thoát linh địa ngục thì vong sẽ được bổ nhiệm làm Phán quan hoặc Hành sai, sau đó được cấp phép tu học theo một trong hai đạo đã nói ở trên.


Trường hợp đặc biệt hơn nữa là dòng họ vô phúc, mãnh tổ được chỉ định làm Quỷ Thần (hại người). Trường hợp này dòng họ đó không thể nào tồn tại lâu được, đến thời điểm nào đó sẽ mất họ. Cô Tổ dẫu có linh thiêng mà không giác ngộ được con cháu dương trần làm lễ phả độ gia tiên thì cũng không có cách nào cứu nổi.


Nếu ông mãnh tổ là quỷ thần, bà Cô Tổ lại bị giam ở địa ngục thì thật là một cảnh bi đát khốn cùng, dòng họ ấy suy bại, chết yểu, thảm thương, vô phương cứu chữa.


Khi có ông mãnh tổ mới thay thế (thường phải sau hàng ngàn năm dương trần) thì mãnh tổ cũ sẽ siêu thoát sang cõi giới khác, tiếp tục con đường tu tập đạo pháp, hoặc được bổ nhiệm làm tiểu thần chứ không bao giờ quay lại đầu thai làm kiếp người (Trong khi đó Cô Tổ dòng họ có thể thăng thiên và có thể đầu thai vào cõi nhân làm người).


Như vậy chúng ta hiểu rõ ông mãnh tổ cũng có quyền hạn đáng kể, tuy nhiên khi cúng lễ (như ngày mồng 1, ngày rằm…) thì âm luật lại chỉ cho phép thỉnh Cô Tổ dòng họ chứ không được thỉnh đến ông mãnh tổ và khi lập bát hương cũng chỉ lập bát hương Cô Tổ dòng họ đại diện, không được lập bát hương thờ ông mãnh tổ. Nếu một gia đình nào đó có người hợp vía hợp mệnh với ông mãnh tổ dòng họ thì mới được phép khấn mời mãnh tổ về thụ thực trong những nghi lễ cúng khấn và kêu cầu sự giúp đỡ cần thiết.



Khám phá & Chia sẻ Bà Cô Tổ - Ông Mãnh Tổ của dòng họ là ai ? tại Ngôi nhà Tâm Linh

Thứ Ba, 19 tháng 9, 2017

Văn cúng vong cho linh hồn thai nhi siêu thoát tại nhà

Có thể nói, Khi mang thai được là niềm hạnh phúc rất lớn của các cặp vợ chồng. Nhưng vì một số lý do nào đó mà họ bắt buộc phải bỏ thai nhi ( VD: Trong quá trình mang thai bị cúm, sởi .v.v.v.).


Việc náo pha thai là một hành động hết sức tội lỗi. Bởi chúng ta đã phá hoại, hủy hoại một sinh linh. Khi thai nhi chết đi thường trở thành những oan hồn, mang trong lòng oán hận vì cha mẹ không cho con chào đời, tạo ra nhiều nghịch cảnh.


Với những người mẹ, người cha bị vong thai nhi oán giận như thế cũng rất dễ dàng giao lưu với vong con mình trong một số hoàn cảnh và điều kiện quy định. Mặc dù khi chết như trong trạng thái nạo, hút, phá thai bằng những biện pháp cực đoan, nhưng vong vẫn phát triển tư duy theo năm tháng. Ví dụ sau 40 năm (thời gian cõi trần) thì thai nhi giống như đứa trẻ đã 4 tuổi (thời gian cõi âm).


Những thai nhi nếu không được cha mẹ quan tâm (cúng lễ) thì rất oán giận và hay làm tổn thương cha mẹ bằng các chứng bệnh tật, ốm đau.



Bởi vậy những người mẹ có phá bỏ thai (từ độ tuổi có tim thai) mà trải qua thời gian đang mạnh khỏe bỗng nhiên trở nên hay đau yếu lắm bệnh tật thì điều đầu tiên phải nghĩ tới là thai nhi đang oán trách, do vậy phải biết con cái mà mình đã bỏ thuộc vào độ tuổi nào để biết cách cúng lễ cho chúng áo quần, đồ ăn thức uống phù hợp thì sẽ khỏi bệnh.


Việc cúng vong hồn thai nhi, giúp thai nhi siêu thoát là một điều hết sức quan trọng. Dù vô tình hay cố ý đã phạm lầm lỡ, mọi người hãy tìm cách hóa giải nghiệp chướng đó cho lòng thanh thản. Cho những vong nhi được ngậm cười, yên lòng đi đầu thai nơi cửa khác. Rất nhiều người đã làm lễ cầu siêu để tạ lỗi với con và mong linh hồn con siêu thoát.


Bài viết dưới đây những điều ba mẹ cần làm tham khảo trên trang Bát Quái để những bạn nào mắc phải nghiệp này có thể tham khảo và áp dụng.


1. Đặt tên cho thai nhi.


Đức Dalai Latma đã khẳng định: “Phật giáo quan niệm rằng ý thức xâm nhập ngay từ phút giây đầu tiên của sự thụ thai”. Chính vì thế, bào thai dù chỉ mới hình thành vẫn có thể được coi như một con người. Và thai nhi cũng có rất nhiều cảm xúc khi bị bỏ. Một trong những cảm xúc ấy là tủi thân, tủi phận về số kiếp của mình đã không may mắn được làm người.


Khi người mẹ phá thai là đã tạo tội, đã thiếu nợ với vong linh thai nhi ấy, do đó đặt một cái tên đàng hoàng giống như đang chuộc lỗi vậy. Nó nói lên cái tâm hối lỗi và muốn chuộc tội của cha mẹ. Chỉ như vậy thôi đã để lại sự cảm thông của vong linh thai nhi nhiều rồi.


Nếu cha mẹ nào chưa đặt cho con cái tên thì ngay bây giờ hãy làm liền đi, đừng nghĩ là con mất lâu rồi nên không cần đặt tên. Nên nhớ có những “vong” thai nhi không những theo cha mẹ kiếp này mà còn theo cho đến những kiếp khác nữa. Cuộc sống của ta trải qua mấy mươi năm rồi ra đi, nhưng nếu lúc sống lỡ phạm vào nghiệp này nếu chưa hóa giải được, có thể “vong thai nhi” đó sẽ theo ta đến kiếp khác.


2. Bài cúng cầu vong thai nhi được siêu thoát.


Sách nhà Phật có nói, được làm người khó như một con rùa mù ở giữa biển cả mênh mông, phải rất lâu mới trồi lên được mặt nước một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ mục trôi, con rùa làm sao trồi lên gặp đúng bộng cây đang trôi vô định đó, điều ấy thật khó xảy ra. Vậy, khi một người mẹ chối bỏ một thai nhi nghĩa là chỉ trong một phút, họ đã phá đi sự cố gắng, tu tập một kiếp thậm chí là ngàn kiếp của đứa trẻ đó.


Chính vì vậy, vong thai nhi khi bị phá bỏ thường chuyển từ yêu thương sang oán hờn nên rất khó siêu thoát. Gia đình phải tổ chức lễ cầu siêu cho vong thai, giúp thai nhi sớm được siêu thoát. Để cầu cho con bớt khổ thì cha mẹ hãy nguyện làm một điều tốt đẹp, có phước đức rồi hồi hướng cho con. Thay vì cứ ngồi mà nói cha mẹ đã ăn năn thì hãy làm một việc gì đó có nghĩa thì ích lợi hơn nhiều.


Lễ nghi và bài cúng vong thai nhi tại nhà:


+ Đồ cúng cho vong thai nhi:


– Sữa ông thọ pha ra ly hoặc sữa hộp nhỏ (cô gái Hà Lan, Vinamilk. vv…kèm ống hút)


– Bánh kẹp loại ngon ( không phải loại cúng cô hồn ), Sô cô la càng tốt.


– Tùy bạn bỏ hay mất bao nhiêu thai nhi , thì cứ 1 thai nhi là 2 bộ quần áo giấy nam , nữ (nếu như không biết giới tính thai nhi) kèm theo giấy tiền vàng bạc.


+ Bài cúng cho vong thai nhi:


“OM AH HUNG Xin nhờ lửa làm tan chảy không còn sót những món diệu dục đơn giản nhưng quí giá này hóa một đám mây vô tận trong không gian thành một tiệc cúng dường không chấp trước, xin cho con dâng cúng lên chín phương Trời mười Phương Phật chư Phật mười phương.


Hôm nay là ngày… tháng… năm… Tín chủ con là… ở tại số nhà… thành kính dâng lên cúng dường Chư Phật mong Chư Phật ban phước cho toàn thể chúng sinh không chừa sót một ai những điều an lành nhất. Con cũng xin nhờ vào tiệc cúng dường này, ánh sáng từ bi và trí tuệ của Chư phật sẽ hiện hữu trong tâm con và tất cả mọi người đồng thời chiếu sáng tất thảy các cõi khác để tất thảy hướng về Phật Pháp. Con nguyện với lòng thành tâm của mình trước Chư Phật xin được sám hối mọi lỗi lầm do thân khẩu ý con đã phạm phải từ trước tới nay.


Con xin cúng dường tới các chư thiên, thiện thần, hộ pháp mong các ngài che chở cho con cùng gia đình luôn an lành, thoát khỏi mọi thế lực xấu và ác của cõi dương và cõi âm.


Con cũng xin được nhờ vào lễ hỏa cúng này, hồi hướng cầu siêu cho tất cả các chúng sinh không chừa sót một ai đang lang thang trong cõi thân trung ấm hay cõi âm để họ bớt sợ hãi, đau khổ và nhanh chóng được chuyển nghiệp. Con cầu xin được cầu siêu cho cửu huyền thất tổ gia tiên gia tộc họ… cho cha…, mẹ… hay…. được hoan hỉ và sớm siêu thoát về nơi cực lạc hay cõi an lành khác”.


+ Bỏ đồ cúng cho vong nhi vào đốt… rồi khấn tiếp:


“Đặc biệt con xin được thành tâm sám hối cho nghiệp sát con phạm phải đối với các hài nhi đã từng kết duyên cùng con mà con chối bỏ. Cầu mong các hài nhi tha thứ và xóa bỏ mọi tâm tư oán hờn gây chướng ngại tới con, cầu mong các vong nhi buông bỏ và sớm chuyển đầu thai vào các cõi an lành mới. Cầu mong tất cả các vong nhi khác cũng đều hoan hỉ và siêu thoát như vậy.


Con nguyện sẽ gắng làm những điều thiện để hồi hướng, trợ duyên cho các vong nhi sớm được siêu thoát (nguyện thêm gì tùy tâm khấn ra…). Cầu mong cho lời nguyện lành của con được thành sự thật.


Nếu đã tu thì đọc mật chú, nếu không biết thì đọc thần chú sáu âm của Bồ tát Quán Thế Âm “OM MA NI PADE ME HUM” 108 lần (Cách đọc: “ôm ma ni pát đờ (đờ đọc thầm âm gió) mê hum”.


Sau khi cúng xong hãy nói:


“Lễ hỏa cúng đến đây là kết thúc, xin được mời các ngài và các chư vị an tọa về nơi trụ xứ của mình và chỉ trở lại khi gia chủ có lời thỉnh mời. Xin các vong hãy hoan hỷ đón nhận tấm lòng thành của gia chủ mà sớm được siêu thoát”. Cũng xin che chở cho gia chủ mọi sự được tốt đẹp an lành. Gia chủ xin cảm tạ.


3. Những lưu ý khi cúng.


1.Thắp 3 cây nhang, cháy được 1/2 cây, bắt đầu hóa mã quần áo giấy , đổ sữa xuống đất từ từ và nhẹ nhàng (đổ trên mâm nếu cúng trong nhà). Đồ ăn không bỏ, chia nhau cả nhà dùng bình thường vì không phải đồ cúng cô hồn.


2. CÚNG NỬA TRONG NỬA NGOÀI NHÀ (nhà tầng thì cúng trong nhà nếu không có sân) để trên cái bàn nhỏ, không được đặt trên bàn thờ Phật hay Gia Tiên.


3. CÚNG trong thời gian từ 7H SÁNG ĐẾN 5H CHIỀU, SAU 5H CHIỀU, THAI NHI SẼ không được phép nhận đồ cúng nên sẽ thành vô ích hết nếu cúng lố giờ.


4. Nếu có điều kiện, hãy làm đều đặn mỗi tháng vào các ngày rằm. Nếu không, cố gắng làm vào các dịp như rằm: tháng giêng, tháng 4, tháng 7, tháng 8, tháng chạp. Nó đem lại cho các bạn nhiều điều lợi lạc hơn bạn tưởng.


Hi vọng với Bài cúng vong thai nhi tại nhà cho linh hồn siêu thoát giúp mọi người có thể cầu siêu cho thai nhi được yên nghỉ, nhanh chóng chọn được gia đình mới, để sống kiếp khác tốt hơn.



Khám phá & Chia sẻ Văn cúng vong cho linh hồn thai nhi siêu thoát tại nhà tại Ngôi nhà Tâm Linh

Tìm hiểu về Nghi Lễ Di Cung Hoán Số

Lễ di cung hoán số là nghi lễ có thật nhưng rất hiếm trường hợp có thể di cung. Một vong linh được làm người có cơ hội tu tập, học hỏi phát triển trí tuệ phải trải qua rất nhiều thời gian, hàng trăm năm …vì thế được làm người, có cơ hội trả nghiệp quý vô cùng.


Ai cũng vậy khi sinh ra làm người đều có một thời gian được ấn định bởi ông trời. Ai cũng có bát tự (can chi của giờ, của ngày, tháng, năm) riêng.


Có những người sinh cùng giờ, cùng ngày, cùng tháng cùng năm nhưng số phận chưa chắc đã giống nhau, do nhiều nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng bởi môi trường tác động, do sự nỗ lực hoc tập, rèn luyện, do sự giác ngộ tu tập để trả nợ những ân oán do tiền kiếp gây ra…mỗi một kiếp người đều phải trải qua như vậy, không vì bất cứ một lý do nào có thể thay đổi được điều này. Luật nhân quả đã định sẵn cho mỗi con người và chỉ có trời và bản thân người đó nỗ lực rèn luyện, thay đổi mới có thể làm trời xanh ngó mắt xuống nhìn mà thôi.


Vậy muốn di cung hoán số thì họ nhất định phải từ bỏ cuộc sống hiên nay, sau đó cũng lên kính nghiệp đài để định nghiệp và tiếp tục chuyển nghiệp luân hồi…


Nếu thực sự có thể di cung hoán số được thì luật nhận quả không có ý nghĩa gì nữa. Bản thân người thầy tu theo Đạo Mẫu, Đạo Phật tự cho mình làm được điều đó thì họ đã tự di cung hoán số cho chính bản thân họ, con cháu họ một cuộc sống khác chứ cũng chẳng để mình như vậy.


Lễ di cung làm trong những trường hợp nào:


1. Di cung hoán số cho nhưng đứa trẻ sinh phạm giờ

2. Di cung hoán số xin thêm dương thọ.

Những trường hợp này khi từ giã kiếp người sẽ có sớ sách trả tào quan. Khi đó họ sẽ được sống tiếp kiếp người. Nhưng không có nghĩa là sau di cung đứa trẻ hay người đó sẽ có một cuộc sống sung sướng hạnh phúc, vòng quay của luật nhận quả vẫn diễn ra như nó đã định.


Những trường hợp xin thêm dương số là những người có phúc phần tổ tiên và của bản thân từ tiền kiếp rất lớn. Nếu sau khi được sống tiếp kiếp người họ biết làm các công việc phúc đức, giúp đỡ mọi người để tích phúc trả ơn việc được sống tiếp trên trần gian này thì sẽ càng tốt đẹp hơn.


Người làm thầy thực sự được bề trên cấp sắc lệnh, giao cho quyền hạn hơn ai hết hiểu rõ quy luật này. Di cung hoán số không phải là một nghi lễ có thể làm bừa phứa, ai cũng làm lễ di cung, ai cũng hoán số thì còn gì là trật tự âm dương nữa.


Vậy việc di cung để làm ăn thuận lợi, để từ ngu dốt thành thong minh, từ khổ thành sướng là không thể xẩy ra. Không thể bằng một nghi lễ là có thể không cần làm, không cần rèn luyện mà có thể có được kiến thức hay của cải.

Thân làm đồng thầy thừa lệnh bề trên hành sự không thể tự tung tự tác đổi cung đổi số cho người, vi phạm nhiêu lần xóa bỏ lệnh sắc lệnh “đồng thầy” bị trả “quả” ngay trong hiện kiếp. Bản điện của đồng thầy, nơi thờ Tiên Phật Thánh Thần sẽ hết linh vì các bóng các giá không còn phụng lệnh bề trên giáng ứng nữa, khi đó giả Tiên giả Thánh đương nhiên sẽ có cơ hội tìm đến để tá nhập điều khiển đồng thầy.


Người có căn đồng (thân dương trần số hệ thiên cung) là con cha con mẹ từ nhiều đời nhiều kiếp chắc chắn không thày bà nào có thể di cung được. Quyền cha phép mẹ, đường tu cho mỗi Thanh đồng đều đã được định sẵn, không phải chuyện đùa để các thày bà phán lăng nhăng, nói di là có thể di được. Cứ làm ăn khó khăn, vợ chồng trục trặc là phán di cung …thật là : Khi nhìn con cháu mình trả nghiệp do mình tạo ra thì hối hận cũng đã quá muộn rồi


Của cải là do hai bàn tay mà ra, sự bình yên trong tâm hồn là do những việc tu tập thân tâm mà có. Không nên biết mình thành nạn nhân của các đồng thầy ham danh hám lợi trước mắt mà quyên đi cái đạo làm thầy. Quyên đi việc phụng thờ tiên thánh cứu độ bách gia của mình.



Khám phá & Chia sẻ Tìm hiểu về Nghi Lễ Di Cung Hoán Số tại Ngôi nhà Tâm Linh

Ông Hoàng Bảy là ai ?

Nhắc đến Ông Hoàng Bảy, những người hay đi chùa, thích hầu đồng đều biết đến. Nhưng thực sự ông là ai cho đến nay vẫn là một bí ẩn; dù trong dân gian có nhiều câu chuyện truyền kỳ khác nhau giải đáp điều này.


Ông “thần vệ quốc”


Người Bảo Hà chỉ biết ông Hoàng Bảy là “thần vệ quốc” – một vị anh hùng của miền sơn cước từng đánh giặc phương Bắc bảo vệ nhân dân. Khi ông mất; đền thờ ông được xây dựng trên ngọn núi Cấm; quay mặt ra phía sông Hồng; đúng thế “tựa sơn đạp thủy” để “trấn yểm” cho vùng đất biên giới được bình yên; thịnh vượng.


Truyền thuyết kể rằng; Ông Hoàng Bảy hay thường gọi là Ông Bảy Bảo Hà. Ông là con Đức Vua Cha. Theo lệnh vua; ông giáng phàm trần; trở thành con trai thứ bảy trong danh tộc họ Nguyễn; cuối thời Lê. Vào cuối đời Lê niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786 ) khắp vùng Qui Hóa gồm Châu Thủy Vĩ và Châu Văn Bàn (thuộc Lào Cai bây giờ) luôn bị giặc phương Bắc tràn sang cướp phá; khắp vùng loạn lạc; cư dân điêu tàn. Trước cảnh đau thương tang tóc ấy; tướng Hoàng Bẩy được triều đình giao trọng trách khởi binh dẹp loạn vùng biên ải. Đội quân của ông tiến dọc sông Hồng đánh đuổi quân giặc; giải phóng Châu Văn Bàn và củng cố xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn.


Trong một trận chiến đấu không cân sức Ông Bảy bị giặc bắt; chúng tra khảo hành hạ dã man; nhưng ông vẫn một lòng kiên trung; quyết không đầu hàng; cuối cùng; không làm gì được; chúng sát hại ông rồi mang thi thể vứt xuống dòng sông. Kì lạ thay; di quan của ông dọc theo sông Hồng; trôi đến phà Trái Hút; Bảo Hà; Lào Cai thì dừng lại. Nhân dân trong vùng đã vớt; an táng thi thể ông và lập đền thờ tại đây để ghi nhớ công đức to lớn của ông.


Còn một điều kì lạ nữa là khi ông bị giặc sát hại; thì trời bỗng chuyển gió; mây vần vũ; kết lại thành hình thần mã; từ thi thể ông phát ra một đạo hào quang; phi lên thân ngựa; đến Bảo Hà thì dừng lại; trời bỗng quang đãng; mây ngũ sắc kết thành hình tứ linh chầu hội.


Sau này khi hiển linh ông được giao quyền cho trấn giữ đất Lào Cai; ngự trong dinh Bảo Hà; đến lúc này ông nổi tiếng là một Ông Hoàng không chỉ giỏi kiếm cung mà còn rất ăn chơi; phong lưu: khi thanh nhàn ông ngả bàn đèn; uống trà mạn Long Tỉnh; ngồi chơi tổ tôm; tam cúc; xóc đĩa… lúc nào cũng có thập nhị tiên nàng hầu cận; ông cũng luôn khuyên bảo nhân dân phải ăn ở có nhân có đức; tu dưỡng bản thân để lưu phúc cho con cháu. Triều vua Minh Mạng; Thiệu Trị sắc tặng ông danh hiệu “Trấn An Hiển Liệt” và các triều vua nhà Nguyễn khác tôn ông danh hiệu: “Thần Vệ Quốc – Ông Hoàng Bảy Bảo Hà”.


Đền Bảo Hà lưng tựa vào núi; mặt hướng theo dòng nước sông Hồng và nơi đây còn có sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên với kiến trúc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam theo thuyết phong thủy. Đến thờ thần vệ quốc” Hoàng Bẩy; vị anh hùng miền sơn cước đánh giặc phương Bắc bảo vệ dân làng. Vì thú chơi phong lưu của ông nên nơi ông ngự còn được mệnh danh là Trái Hút Bảo Hà.




[caption id="attachment_35" align="alignnone" width="1024"]Đền Bảo Hà Đền Bảo Hà[/caption]

Hội đền Bảo Hà được tổ chức vào ngày 17/7 âm lịch hàng năm. Vào ngày này có đông đảo du khách thập phương đến dự. Người ta thường dâng ngựa xám; bàn đèn; thuốc cống; kẹo xìu (kẹo lạc)…. Ngoài những ngày lễ hội; vào những ngày thường (đặc biệt là vào mùa xuân) khách thập phương trong cả nước vẫn thường xuyên tụ họp về đây để thắp hương tưởng niệm; cầu an; cầu lộc.


Tại sao khi lễ Ông Hoàng Bảy hay dâng trà Ô Long và thuốc phiện?


Để có thể thu phục được các thổ ti; tù trưởng thì quan Hoàng Bảy không dùng biện pháp quân sự mà bằng sự thu phục nhân tâm. Để thu phục nhân tâm ông đã chủ động hòa nhập vào cuộc sống của các tù trưởng thô ti như uống trà; đánh bạc; hút thuốc phiện…. Có lẽ vì vậy; cứ nói đến ông Hoàng Bảy là chúng ta nghĩ đến một vị quan ăn chơi bậc nhất trong các vị thánh.


Tuy vậy; sự ăn chơi của ông không phải là thú vui của ông mà chính là cách ông tiếp cận với các thổ ti; tù trưởng và sau đó cảm hóa họ để tạo nên sự đoàn kết và ổn định biên cương tổ quốc.


Tuy vậy; việc dâng ông thuốc phiện là phạm pháp; chúng ta chỉ nên dâng ông Hoàng Bảy trà tàu và thuốc lá là được. Nên nhớ rằng nhà thánh cũng không bao giờ ủng hộ chúng ta vi phạm pháp luật.


Gạt đi những chuyện mê tín


Vốn để thờ vị tướng có công đánh giặc yên dân; nhưng không rõ từ bao giờ đền ông Hoàng Bảy đã trở thành địa điểm mà “dân số má” từ khắp các nơi kéo về dâng lễ cầu lộc.


Điều đáng ngạc nhiên rất nhiều người; đặc biệt dân giang hồ đến đây cầu lộc. Ông bảo; có những đợt ông được chứng kiến tận mắt; tai nghe rõ ràng từng câu xin lộc ông Hoàng Bảy của “dân số má” rằng: “Cầu xin ngài cho con đánh lô trúng lô; đánh đề trúng đề; buôn bán trót lọt; ít qua ít; nhiều qua nhiều…”. Chỉ vài ngày sau; người ấy quay lại tạ lễ vì thắng lớn. Đấy không phải là trường hợp điển hình mà hầu hết “dân số má” đều kéo đến đền Bảo Hà xin lộc. Có lẽ vì thế; mà đền Bảo Hà được xưng tụng là “đền số má”.


Đã từng có thời gian; đền Bảo Hà trở thành một trong những “điểm nóng” về tệ nạn xã hội; đặc biệt là tệ nạn ma túy.


Gạt đi những chuyện mê tín hay lời đồn thổi chưa rõ thực hư trong dân gian đó; thì đền ông Hoàng Bảy vẫn là một điểm thu hút du khách thập phương. Dịp mùa xuân hay hội đền vào tháng 7 âm lịch; người dân nhiều địa phương trong cả nước vẫn tìm đến đây để cầu lộc; cầu an. “Đền ông Hoàng Bảy rất quan trọng trong tâm linh thờ Mẫu. Đó là một trong ba ngôi đền của tín ngưỡng thờ Mẫu có vị trí đặc biệt cùng với đền ông Hoàng Bơ và ông Hoàng Mười”



Khám phá & Chia sẻ Ông Hoàng Bảy là ai ? tại Ngôi nhà Tâm Linh

Cô chín là ai ? Tìm hiểu về Đền Cô Chín Sòng Sơn

Trong Tứ Phủ Thánh Cô; Cô chín nổi tiếng tài phép; xinh đẹp; sắc sảo. Cô Chín khi ngự đồng mặc áo hồng phơn phớt màu đào phai; có khi cô múa quạt tiến Mẫu; múa cờ tiến Vua; cũng có khi cô thêu hoa dệt lụa; rồi lại múa cánh tiên.


Thân thế:


Theo truyền thuyêt, Cô Chín vốn là một tiên nữ trên Thiên Đình, có một lần vô tình đánh vỡ một chén ngọc nên Ngọc Hoàng giáng xuống hạ giới để theo hầu Mẫu Liễu Hạnh. Khi được giáng trần Cô đã bôn ba bốn phương khắp ngả trời Nam, sau về đến đất Thanh Hóa thấy cảnh lạ vô biên, cô hài lòng liền hội họp thần nữ năm ba bạn cát, lấy gỗ cây sung làm nhà, còn cây si mắc võng. Nhân dân cầu đảo linh ứng liền lập đền thờ. Có lẽ vì vậy, người ta sau này hay dâng Cô Chín võng đào.



Hiện chưa thấy tài liệu nào là cô giáng sinh vào một nhân vật nào trên trần gian. Như vậy thân thế về cô mang tính huyền ảo và như vậy thân thế về Cô nghiêng về phía thiên thần chứ không có hình dáng của nhân thần.


Cô Chín là một thánh cô có nhiều quyền phép. Những người có căn Cô Chín thường có khả năng xem bói, chữa bệnh và gọi hồn. Tuy nhiên, trong khi giáng hầu Cô Chín chỉ hay cho thuốc chữa bênh.


Cô Chín rất hay ngự đồng. Hết các thanh đồng khi Hầu Thánh đều có hầu giá Cô Chín. Khi giáng hầu Cô Chín thường mặc áo hồng phơn phớt màu đào phai và cô múa quạt tiến Mẫu. Đôi khi Cô cũng múa cờ tiến Vua, cũng có khi cô thêu hoa dệt lụa, rồi lại múa cánh tiên. Ai cầu đảo cô đều sắm sửa lễ vật: Nón đỏ, hài hoa, vòng hồng hay võng đào.


Có lẽ Cô Chín là một Thánh Cô nổi tiếng nhất trong các Thánh Cô nên hầu hết các đền, phủ đều có thờ Cô. Tại các đền phủ, Cô Chín có thể có ban thờ riêng hoặc thờ chung với Cô Bơ hoặc thờ chung trong Cung Tứ Phủ Thánh Cô; hoặc Cô được thờ ở một Lầu Cô riêng biệt.


Các tên gọi khác của Cô Chín:

Ở một số địa phương đều thờ cô và tôn với các danh khác như Cô Chín Rồng, Cô Chín Suối, Cô Chín Thượng nhưng chính đều là Cô Chín Sòng được thờ phụng tại đền thờ vọng. Còn có một số nơi thờ Cô Chín Thượng (có thể là Cô Chín Thượng Ngàn hay Cô Chín Thượng Thiên).


Theo quan điểm của Lê Hồng Thái thì tất cả đều chỉ là Cô Chín Sòng. Có nghĩa Cô Chín có hai ngôi Thượng Thiên và Thượng Ngàn. Không biết có nơi đâu thờ Cô Chín Thoải hay không thì người viết cũng chưa rõ.


Lịch sử đền Cô Chín Sòng Sơn:


Đền Cô Chín Sòng Sơn tại Phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn. Nếu từ Hà Nội về Thanh Hóa thì đền Mẫu Sòng nằm ở bên phải dường thì đền Cô Chín Sòng nằm bên trái. Hai đền chỉ cách nhau khoảng 500 m.


Đền Sòng được xây dựng thời Cảnh Hưng triều vua Lê Hiển Tông (1740- 1786). Tương truyền là có một ông lão cầm chiếc gậy tre khô cắm xuống đất làng Cổ Đam mà khấn rằng: “Nếu gậy tre này tươi tốt thì xây đền thờ Liễu Hạnh công chúa”. Quả nhiên lời huyền phán ấy trở nên màu nhiệm. Gậy tre trở nên xanh tươi, bén rễ, đâm chồi tỏa lá tốt tươi lạ thường. Người đời cho là điều lạ linh ứng, linh thiêng mới bảo nhau lập nên Đền Sòng trên mảnh đất ấy. Và lấy ngày 26/2 (âm lịch) hàng năm là ngày lễ chính diễn ra lễ hội – đây chính là ngày hiển linh, hiển thánh của Thánh Mẫu Liễu Hạnh.



Đền Sòng ban đầu khi mới xây dựng còn đơn sơ bé nhỏ. Trãi qua quá trình lịch sử lâu dài gắn với nhu cầu về sinh hoạt tín ngưỡng của người dân, Đền Sòng ngày càng được tu sửa khang trang hơn, đẹp hơn.Tháng 6/1998, được trùng tu, tôn tạo khôi phục lại gần như hoàn toàn vẻ đẹp uy trang, đường vệ và linh thiêng ban đầu của nó.


Đền Sòng mặt hướng về phía Tây Bắc, trước đền có một hồ nước tự nhiên hình bán nguyệt quanh năm xanh trong đó là Hồ Cá Thần, tương truyền rằng trước đây hàng năm cứ đến cữ Tháng giêng, Tháng Hai có một đàn cá toàn thân màu đỏ lũ lượt kéo về bơi lội trong hồ, nhưng khi hết Lễ hội Đền Sòng (hết ngày 26 tháng 2 âm lịch) thì đàn cá tự nhiên không thấy nữa. Nhân dân quanh vùng nói rằng đó là các Nàng tiên trên thượng giới hoá phép về hầu Tiên chúa Thánh Mẫu Liễu Hạnh…


Tại sao Cô Chín Sòng còn gọi là Cô Chín Giếng:


Tương truyền Cô Chín – chính là Cửu Thiên Huyền Nữ – con gái thứ 9 của Ngọc hoàng Thượng đế. Khi tiên cô Cửu Thiên Huyền Nữ (tức Cô Chín) giáng trần, cô bán nước ở cổng đền Ba Dọi. Ban đầu những kẻ người trần mắt thịt không tin, nghĩ cô là yêu quái nên quở trách, đánh đuổi và tìm mọi cách diệt trừ. Vì tức giận nên cô đã về tâu với thiên đình cho thu giam hồn phách những người này rồi hành cho dở dại dở điên.


Với phép thần thông quảng đại lại có biệt tài xem bói trong những năm chinh chiến loạn lạc, cô đã phò vua giúp nước bằng cách tiên đoán trận mạc, nhờ đó trăm trận trăm thắng. Với công lao to lớn, vua đã truyền dân lập đền thờ cô. Trước đền lúc đó có đến 9 miệng giếng tự nhiên do đền cô cai quản. Vì thế có câu: Cố Chín quyền cai chín giếng” là vậy. Vậy nên Cô Chín còn gọi với tên Cô Chín Giếng. Nghe đâu các giếng này đã bị lấp khi trải qua nhiều thời kỳ.


Chuyện ly kỳ về 9 giếng mới ngày nay:


Ông Hà Văn Châu – Người trông coi đền nhiều năm: “Tôi không nhớ chính xác vào năm nào, chỉ nhớ đó là một năm hạn hán, khi nước sinh hoạt khan hiếm, người dân quanh vùng đã đi tìm nguồn nước đào giếng. Cứ 4-5 người chung nhau đào, họ tìm đến suối Sòng khoan giếng.


Đào liên tục 8 miệng giếng vẫn chưa tìm thấy một giọt nước nào. Kiên trì đặt mũi khoan tới miệng giếng thứ chín, khoan sâu được 8 – 9 m thì bất ngờ xuất hiện một mạch nước lớn đùn lên ào ào. Cả làng được cứu sống nhờ mạch nước này và cũng từ đây xuất hiện 9 miệng giếng thiêng.


Sau đó, có những đoàn ở Hà Nội về thăm dò, đo đạc, nhưng không có kết quả chính xác về độ sâu của giếng. Càng xuống sâu nước càng lạnh. Trực quan địa hình cùng quá trình lặn xuống lòng sâu, họ kết luận: Dưới giếng có một dòng sông ngầm, dự đoán chảy từ dãy núi Tam Điệp (Ninh Bình) ra cửa biển Thần Phù (Nga Sơn)”.


Ở thời kỳ đầu khi người ta phát hiện khu giếng thiêng này, ở miệng giếng thứ 9 rộng, sâu như một hườm đá được đẽo gọt tỉ mỉ xuất hiện cá chuối, cá trắm từng đàn, có con to như bắp đùi người lớn. Người dân đổ xô đi câu, đánh kích, vây lưới bắt cá về bán. Trong số những người bắt cá bằng kích điện, có hai trường hợp chẳng may bị điện giật chết. Chuyện đánh kích điện chết vì điện giật thì không lạ, nhưng người dân nhân việc này tuyên truyền đó là cá thần báo oán, từ đó việc đánh bắt cá ở đây bặt dừng.


Vào mùa hè, khách hành hương sau khi lên đền Cô Chín đều xuống dòng suối này tắm vì có nhiều đồn thổi tắm nước suối tiên sẽ trắng da, xanh tóc, khỏe mạnh phi thường. Nhưng cũng đã có tới 2-3 vụ chết đuối ở đây.


Do nước giếng không bao giờ cạn, đặc biệt miệng giếng thứ 9 sâu không đáy rất nguy hiểm, những miệng giếng còn lại có cạn cũng lút đầu người lớn, nên ban quản lý đền đã gác tạm tấm bê tông lên miệng giếng, đứng trên cao nhìn xuống ai cũng tưởng giếng cạn, có đáy” – anh Huấn nói. Như vậy, việc có người chết đuối cũng là điều được lý giải.


Ở đây còn có câu chuyện, rằng vào mùa mưa, nước suối dâng cao, sau khi khấn vái trên đền xong xuôi, các con nhang có đem lộc thả xuống suối, trong đó có quả bưởi vàng và những xấp tiền xu 200 đồng đã được đánh dấu theo bản hội. Chẳng biết có phép nhiệm màu nào mà chỉ mấy ngày sau, quả bưởi đó đã có mặt ở một giếng khác thuộc địa phận xã Hà Thanh. Cũng trong tháng đó những đồng xu 200 được khắc chữ phía sau đã được cư dân vùng biển Nga Sơn ở cách đó rất xa tìm thấy trong quá trình đi biển.


Những câu chuyện kỳ lạ đó vẫn còn truyền cho tới ngày nay mà chưa có một lời lý giải xác đáng. Có lẽ dòng sông ngầm dưới giếng (như các nhà khoa học đã phán đoán) là một sự lý giải có căn cứ?


Hát văn Cô chín:


Gió đưa thoảng ngát hương lan


Trăng soi chín giếng nước vàng long lanh


Hoa đất lạ mệnh án thủy huyền


Đền sòng sơn đất tốt tự nhiên


Cảnh thiên tạo danh truyền Nam Việt


Địa linh nhân kiệt thiên lý lai long


Giếng âm dương leo lẻo nước trong


Thượng lưu để điêu hoa linh thái


Bốn phương đem lại gió mát trăng trong


Thấy cảnh vui Cô Chín hài lòng


Hợp thần tử dăm ba ban cát


Cung cấm quảng ngàn Hằng Nga


Mẫu sai Cô xuống dương gian ngự đồng


Vốn xưa hầu Mẫu Sòng Sơn


Hài hoa hoán ngọc hầu trong lâu đài


Tuổi vừa mười tám đôi mươi


Đôi quạt hầu 36 nan xương


Cô cầm đến quạt Cô lại thương các thanh đồng


Cô Chín quạt cho sóng lặng biển an


Cho trăng sáng tỏ xua tan đám mây mờ


Cô Chín lên trời quạt gió quạt mây


Xuống sông quạt nước


Cô Chín về đây quạt cho các thanh đồng


Gió thu thoảng ngát hương lan


Trăng soi chín giếng nước vàng long lanh


Thanh Hoa sơn thủy hữu tình


Có Cô Chín Giếng anh linh khác thường


Sinh thời hầu cận mẫu vương


Dọn hàng quán mát âm dương núi sòng


Cầm đàn luyện khúc năm cung


Gọi hồn non nước dục lòng thế nhân


Cung thương gió chuyển mây vần


Hồ cầm vọng nguyệt hoa xuân mỉm cười


Sự lòng cố cuốc đầy vơi


Sông thu nước chảy thuyền xuôi ngược dòng


Xế chiều sương tỏa tuyết đông


Công hồ tạm biệt tạ lòng quân vương


Líu lô tiếng vượn gọi bầy


U ơ tiếng dế nỉ non canh trường


Sáng trời gà gáy tan sương


Còn vang khúc nhạc canh trường đầy vơi


Tuy rằng theo mẫu về giời Anh linh


Cô xuất hiện núi đồi Thanh Hoa


Cây xung Cô lấy làm nhà


Cây lan cổ thụ lắm hoa nhiều cành


Đền Cô phong cảnh hữu tình


Đôi bên long hổ đua tranh chầu vào


Linh đường tụ thủy hợp giao.



Khám phá & Chia sẻ Cô chín là ai ? Tìm hiểu về Đền Cô Chín Sòng Sơn tại Ngôi nhà Tâm Linh

Tôn nhang bản mệnh là gì ?

Tôn nhang bản mệnh nghĩa là thành tâm gửi Thân, Mệnh của mình nơi đấng linh thiêng, nhờ ơn trên gia ân ban phước, che chở, độ trì cho được những điều may mắn trong cuộc sống.

Tôn nhang bản mệnh chia ra hai loại : Bắt buộc và Tự nguyện



Người bắt buộc phải tôn nhang bản mệnh

– Trong trường hợp thứ nhất (1) là những người có mệnh đồng, là con của Tiên, Phật, Thánh, Vương, Thần. Người có mệnh đồng có thể phải trình đồng mở phủ ( nếu phụng thờ theo đạo Tiên) hoặc không phải trình đồng mở phủ ( nếu phung thờ theo Phật đạo và một số đạo khác).

– Trường hợp thứ hai (2) đối với những người có căn quả không phải là con của Tiên Phật Thánh Vương Thần mà nghĩa vụ trách nhiệm phải thờ phụng đấng linh thiêng do những căn nguyên hệ lụy tiền kiếp được bề trên cứu vớt, giải thoát. Nay tiếp tục phải thuận theo, nương nhờ ơn trên để được dạy dỗ, chỉ bảo, cho được điều hay, lẽ phải trong cuộc sống. Từ đó mà được giác ngộ, tịnh tâm tịnh độ, xa lìa bến tham luyến mê hoặc dần dần từng bước thân tâm thanh tịnh, ổn định cuộc sống.

Người tự nguyện tôn nhang bổn mạng

– Trường hợp thứ ba (3):Đây là những người không có căn quả, không phải mệnh đồng, nhưng vì có thiện tâm, tín tâm, thiên duyên hữu ý, phước đức lớn lao mà nguyện phụng thờ Tiên Thánh không vụ lợi, không điều kiện. Những người này sẽ có nhiều thành quả trong cuộc sống nếu biết tuân thủ những tiêu chí của một hương tử hay phật tử …của đạo phái mà mình tin theo.

– Trường hợp thứ tư (4): Đây là những người không có căn quả, mệnh đồng lại không hiểu biết, u mê lầm lẫn, a dua theo người, tôn nhang bản mệnh với mục đích vụ lợi, làm những việc trái đạo….Tất sẽ phải nhận lãnh những hậu quả to lớn, cuộc sống bất ổn, gia đạo xáo trộn, nhà tan nghiệp đổ, kiếp kiếp lầm than, không thể nào nói hết.

Như thế chúng ta hiểu đơn giản cho dễ hình dung như thế này:

Cha mẹ sinh ra ta, ta phải có trách nhiệm và nghĩa vụ quan tâm, hầu hạ chu đáo, như vậy cha mẹ rất hài lòng và dành tình yêu thương che chở đùm bọc con cái của mình ( trường hợp 1)

Ta không phải là con đẻ của cha mẹ mà chỉ là con nuôi do ân tình nghĩa lụy…gì đó được cha mẹ tiếp nhận, nâng đỡ, bảo ban, chăm sóc, nuối dưỡng cho thành người, Vậy ta cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ quan tâm hầu hạ tới cha mẹ nuôi của mình ( trường hợp 2)

Ta không phải con đẻ cũng chẳng phải con nuôi, vì tình yêu, vì sự kính trọng, ngưỡng mộ tài danh đức độ, ta coi họ như cha, như mẹ của mình. Do đó, có đi có lại, họ không bao giờ để ta thiệt thòi, họ luôn dõi theo đường đi lối sống của ta để hướng dẫn, bảo ban khi cần thiết, giúp ta có thêm nghị lực và trí tuệ để có đủ bản lãnh vượt qua những gian nan thử thách ( trường hợp 3)

Ta không phải con đẻ, chẳng phải con nuôi của người, nhưng vì sẵn lòng tham sân si, ngu dốt, liều lĩnh, dối trá, độc ác….ta muốn lợi dụng uy tín, tài năng, của cải vật chất của họ đề phục vụ ý muốn xấu sa, âm mưu độc ác của ta… Vậy thì ta sẽ phải trả giá cho những việc làm sai lầm đó ( trường hợp 4)

Khám phá & Chia sẻ Tôn nhang bản mệnh là gì ? tại Ngôi nhà Tâm Linh

Ý nghĩa của việc thắp hương, cúng lễ vào ngày 1 và 15 hàng tháng

Theo truyền thống, cứ vào ngày mùng 1 và rằm là chúng ta thắp hương, cúng lễ. Vậy tại sao chúng ta lại thắp hương và cúng lễ vào ngày 1 và 15 hàng tháng ? 


Giống như trên trần gian chúng ta vào ngày Lễ, Tết chúng ta được nghỉ. Và do đó rất đông trong số những người lao động ra thành phố sinh sống, thu xếp công việc để về quê quán thăm gia đình: ông, bà, cha mẹ hoặc họ hàng ruột thịt… Hai ngày mồng 1 và 15 hàng tháng, ở cõi âm, theo luật giới quy định cho phép tất cả các vong linh được hồi gia thăm thân nhân.


Xem thêm: 10 điều kiêng kỵ dân gian cần biết vào ngày mùng 1 hàng tháng


Bởi vậy người cõi trần thắp hương, sắm lễ để cúng kính đón mời các vong linh gia tiên tiền tổ về ẩm thực và cầu mong cho các vong linh được yên ổn, vui tươi, nhẹ nhàng siêu thoát, phù hộ độ trì cho con cháu trên cõi nhân gian được mạnh khỏe, bình an và gặp nhiều điều may mắn trong cuộc sống.



Tuy vậy có ngoại lệ, đối với những vong linh vì phạm tội nặng mà bị giam nơi điện ngục thì không được phép về. Những vong linh phạm tội nhẹ hơn thì có thể về dưới sự giám sát của những vị hành sai nơi địa phủ. Về xong rồi lại phải đi ngay, nếu gia đình có cúng kính thì còn có đồ mà ăn, hương lạnh khói tàn thì lại mang cái bụng đói trở về nơi ngục tối.


Một số vong linh bị giam cầm lại không muốn về nhà. Một số khác thì đường sá xa xôi, cách trở muốn về cũng chẳng có điều kiện mà đi được….


Những vong linh cô hồn chúng sinh không gia đình người thân thì được phép đến thụ hưởng xin lộc từ việc bố thí, cúng dường ở những nơi đền chùa miếu,….


Ngoài việc thắp hương, cúng lễ tại gia, người ta còn sắm lễ đến nơi chùa chiền, miếu mạo. Tuy đơn giản là lễ Phật bái Thánh cầu xin sự che chở của đấng linh thiêng cho gia đình được bình an, nhưng đây cũng chính là điều kiện để một số các vong linh tiên tổ được về với gia đình cùng đi theo hành lễ, chứng giám công đức, lòng thành của thân nhân mà tùy theo đó độ duyên cho họ gặp được những điều hay lẽ phải trong cuộc sống.


Ngoài ra ghi chú thêm : Rằm tháng Bảy là ngày xá tôi vong nhân.


Ngày này ngoài việc các vong linh phạm tội được hồi gia thăm thân ( Luôn có các vị hành sai đi giám sát), thì các vong linh cũng được miễn hình phạt trong ngày đó ( tức là không bị đánh đập ). Chứ không phải là các vong linh phạm tội được tha. Đã có tội bị giam nơi điện ngục là mãi mãi ở trong đó muôn kiếp không luân hồi. Trừ phi có người thân nơi cõi trần đi xem Thầy được chỉ bảo, làm lễ Thoát linh địa ngục cho, thì mới được giải cứu và tiếp tục tu tập theo nhân quả báo ứng.


Nguồn: FB Thế giới Tâm Linh Huyền Bí.



Khám phá & Chia sẻ Ý nghĩa của việc thắp hương, cúng lễ vào ngày 1 và 15 hàng tháng tại Ngôi nhà Tâm Linh