Thứ Bảy, 25 tháng 11, 2017

Chùa Đồng - Yên Tử, Quảng Ninh

Chùa Đồng là ngôi chùa được xếp vào hàng độc đáo nhất trên thế giới, được ví như một “kỳ quan mới” tại khu danh thắng Yên Tử – hiện đang giữ rất nhiều kỷ lục mà không phải ai cũng biết.


Theo dân gian, chùa Đồng – Yên Tử là nơi con người có thể cầu viện được “sinh lực của vũ trụ” cho mọi mặt của cuộc đời. Dòng sinh lực vũ trụ này như mọi nguồn hạnh phúc chảy xuống mặt đất làm nảy nở sự sống. Dòng tôi chảy của sự thiêng liêng đó chỉ xảy ra ở những mảnh đất hội được những điều kiện nhất định. Chùa Đồng, nơi mà tín đồ, phật tử đặt niềm tin vào sự linh ứng mỗi lần đến thăm viếng để được nhập vào nguồn sinh khí vô biên đó.


Chùa Đồng có tên gọi ban đầu là Thiên Trúc Tự, sở dĩ được gọi là chùa Đồng vì toàn bộ Chùa được làm bằng chất liệu đồng (theo lời sư trụ trì chùa Thích Thanh Quyết). Chùa tọa lạc ở đỉnh cao nhất dãy Yên Tử (1.068m). Chùa Đồng (Yên Tử) đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam ghi nhận là ngôi chùa đồng lớn nhất và nằm ở độ cao nhất cả nước.


Phía sau chùa là vực sâu với vách núi đá dựng đúng thuộc địa phận tỉnh Bắc Giang.



Chùa Đồng mới do các nghệ nhân đúc đồng ở Ý Yên, Nam Định thực hiện theo mẫu chùa Dâu Keo (Thuận Thành, Bắc Ninh), nặng 70 tấn, dài 4,6m, rộng 3,6m và chiều cao từ cột nền tới mái là 3,35m. Các hoa văn, họa tiết trên đầu đao, bệ mái mang đậm phong cách đời Trần. Toàn bộ công trình gồm chùa, tượng Phật, chuông nặng hơn 70 tấn, được đúc bằng đồng nguyên chất nhập từ Australia, với khoảng hơn 4.000 cấu kiện, trong đó cấu kiện nặng nhất có trọng lượng 1,4 tấn, được lắp đặt trực tiếp trên đỉnh núi.


Khi thi công chùa Đồng mới, hai ngôi chùa cũ trên đã được chuyển về bảo quản tại Ban Quản lý di tích Yên Tử, và sau này được chuyển về Nhà trưng bày.


Địa thế chùa được dựng mang hình dáng một đóa sen khổng lồ, trong đó mỗi phiến đá là một cánh sen nở, chùa Đồng tọa lạc giữa đài sen. Địa thế nghiêng sang hai bên, phía đông triền đá dốc nghiêng, phía tây dốc đứng thành vực thẳm, lối đi chỉ vừa một bàn chân chênh vênh. Chùa quay về hướng Tây Nam, có bình đồ kiến trúc hình chữ “nhất”, một gian hai chái, cũng mang dáng như một bông sen nở.


Hai bên chùa có giá treo chuông, khánh. Sau chùa là nhà tăng cho sư an trú lo Phật sự của chùa.


Do vị trí cheo leo, đỉnh núi quanh năm mây mờ che phủ nên chùa được thiết kế đặc biệt với những phương pháp tối ưu nhất để chống chịu với thời tiết khắc nghiệt.


Lên đỉnh Yên Sơn, đi trong mây không phân biệt đâu là trời, đâu là đất, đâu là người ở nơi hòa đồng giữa trời đất và người (thiên, địa, nhân). Từ đỉnh Yên Sơn nhìn về 4 hướng là cả vùng Đông Bắc như dải lụa xanh thẳm, cảnh đẹp lạ thường.


Lịch sử Chùa Đồng


Chùa Đồng – Yên Tử từng là nơi tu hành của Đức Vua – Phật Hoàng Trần Nhân Tông, con trưởng của vua Trần Thánh Tông (1258-1308). Nguyên khởi, chùa Đồng do một bà phi của chúa Trịnh dựng vào thời hậu Lê (thế kỷ 17). Chùa được đúc bằng đồng, ban đầu chỉ là một cái khám nhỏ, một người chui không lọt.


Đến năm Canh Thân 1740, đời vua Lê Cảnh Hưng, bão làm bật mái chùa, sau bị kẻ gian dỡ phần còn lại chỉ để lại dấu tích các hố cột chôn trên mỏm đá.


Vào mùa Đông 1930, bà Bùi Thị Mỹ từ chùa Long Hoa tái tạo chùa Đồng bằng bê tông cốt đồng trên một hòn đá vuông cao quá đầu người ở vị trí chùa Đồng cũ.


Đến năm 1993, ông Nguyễn Sơn Nam, một Việt kiều ở Mỹ, cùng các phật tử ở hải ngoại phát tâm đúc lại chùa mới kiến trúc hình chữ Đinh theo dáng một bông sen nở, ngự trên sập đồng chân quỳ dạ cá trổ hình hoa sen cách điệu, đặt ngay bên cạnh ngôi chùa Đồng bằng bê tông xây dựng đầu thế kỷ XX.


Theo tinh thần, hai chùa quy vào một khối, không để Phật tử và nhân dân phải thờ hai chùa Đồng cùng một lúc, thực hiện Quyết định số 3325/QĐ-UB ngày 29/8/2005 của UBND tỉnh Quảng Ninh Phê duyệt dự án đầu tư tôn tạo tại chùa Đồng tại khu di tích Yên Tử, TP Uông Bí. Ngày 03 tháng 6 năm 2006 dưới sự chủ trì của Tiến sĩ Phật học Đại Đức Thích Thanh Quyết (Thượng Tọa Thích Thanh Quyết) và Ban Quản lý Dự án chùa Đồng, bằng công đức thập phương trong và ngoài nước đã khởi lễ đúc chùa Đồng theo mẫu thiết kế của kiến trúc sư Trần Quốc Tuấn – Viện Bảo Tồn Di Tích. Chùa được khánh thành vào ngày 30 tháng 01 năm 2007, tọa lạc trên đỉnh non thiêng ở vị trí giữa hai ngôi chùa được xây dựng trước đây.


Hệ thống thờ cúng tại Chùa Đồng


Hệ thống tượng Phật trong chùa gồm 1 pho tượng Phật Thích Ca và 3 pho tượng Tam Tổ Trúc Lâm. Tượng có kích thước cao trung bình từ 0,45-0,87m tọa trên đài sen, trong đó 3 pho tượng Tổ được tạo tác lớn hơn. Tượng Thích Ca trong trang phục áo cà sa, tọa thiền với tư thế kiết già (thế liên hoa tọa). Tượng Đệ nhất Tổ (Trần Nhân Tông) mặc áo cà sa, tay úp lên hai đùi, tư thế ngồi “kiết già kiểu cát tường” hay còn gọi là “cát tường tọa” mắt nhìn xuống soi rọi nội tâm. Tượng Đệ nhị Tổ (Pháp Loa) và Đệ tam Tổ (Huyền Quang) mặc áo cà sa, tư thế ngồi kiết già không lộ bàn chân, tay kết “định ấn”. Toàn bộ 3 pho tượng Tổ ngự trên đài sen đặt trên bệ, trang trí hoa văn hình sen, cúc, thị, lá lật, hoa văn sóng nước.


Từ lâu, chùa Đồng không chỉ mang ý nghĩa về kiến trúc mà xét trên phương diện tín ngưỡng lâu đời, nó có ý nghĩa tâm linh đặc biệt. Chùa Đồng Yên Tử hoàn toàn khác biệt bất cứ công trình đúc kim loại nào trên thế giới, kể cả kiến trúc và điêu khắc mỹ thuật. Đó là vẻ đẹp vừa khỏe khoắn, vừa mềm mại, bay bổng.


Hàng năm, lễ hội ở chùa Đồng và Yên Tử nói chung diễn ra vào ngày mùng 10 tháng Giêng (Âm lịch) và 3 ngày đầu năm. Ngoài ra, vào những ngày sóc, vọng hay lễ Vu Lan, Phật đản, nhiều Phật tử cả nước cũng về đây hành hương lên chốn Trúc Lâm Yên Tử linh thiêng để tỏ lòng thành kính với Đức Phật từ bi.



Khám phá & Chia sẻ Chùa Đồng - Yên Tử, Quảng Ninh tại Ngôi nhà Tâm Linh

Thứ Năm, 23 tháng 11, 2017

Cách chọn tuổi xông nhà đầu năm

Chọn tuổi xông nhà, hay xem tuổi tìm người xông đất tốt, hợp với gia chủ là điều nên làm. Bởi vì cha ông chúng ta quan niệm rằng đầu năm mà mọi việc đều thuận lợi suôn sẻ thì cả năm đó sẽ được may mắn, bình an và thành công trong nhiều công chuyện. 


Theo kinh nghiệm dân gian, khi Chọn tuổi xông nhà nên chọn người có Thiên can, Địa chi, Ngũ hành tương sinh với Gia chủ. Đồng thời Thiên can, Địa chi, Ngũ hành của năm cũng cần tương sinh với người đó.


Người được chọn phải đáp ứng các tiêu chí: có đạo đức đường hoàng, vui vẻ, rộng rãi, hạnh phúc, thành đạt, đang ăn nên làm ra thì càng tốt và một yếu tố quan trọng là hợp với tuổi của chủ nhà.


Giang anh xin chia sẻ một số điều để sao Chọn tuổi xông nhà phù hợp với năm và gia chủ.


I. Chọn tuổi xông nhà nên chọn là nam hay nữ?


Nam hay Nữ đều được, nhưng quan trọng người đó cần có phúc dày, thành đạt trong cả công việc và gia đình.


Người đến xông đất thường chỉ đến thăm, chúc tết 5 - 10 phút, với ý nghĩa chúc cho mọi việc trong năm của chủ nhà được trôi chảy thông suốt. Người đi xông đất có niềm vui vì làm được việc phúc lành. Người được xông đất cũng sung sướng vì gia đạo may mắn, tốt lành cả năm.


II. Chọn tuổi xông nhà theo Địa chi


12 địa chi là: Tý - Sửu - Dần - Mão - Thìn - Tỵ - Ngọ - Mùi - Thân - Dậu - Tuất - Hợi.


1. Chủ nhà tuổi Tý hợp người tuổi Thân, Thìn (Tam hợp), Tuổi Sửu (Nhị hợp).


2. Chủ nhà tuổi Sửu hợp người tuổi Tỵ, Dậu, Tý.


3. Chủ nhà tuổi Dần hợp người tuổi Ngọ, Tuất, Hợi.


4. Chủ nhà tuổi Mão hợp người tuổi Mùi, Hợi, Tuất.


5. Chủ nhà tuổi Thìn hợp người tuổi Tý, Thân, Dậu.


6. Chủ nhà tuổi Tỵ hợp người tuổi Sửu, Dậu, Thân.


7. Chủ nhà tuổi Ngọ hợp người tuổi Dần, Tuất, Mùi.


8. Chủ nhà tuổi Mùi hợp người tuổi Mão, Hợi, Ngọ.


9. Chủ nhà tuổi Thân hợp người tuổi Tý, Thìn, Tỵ.


10. Chủ nhà tuổi Dậu hợp người tuổi Sửu, Tỵ, Thìn.


11. Chủ nhà tuổi Tuất hợp người tuổi Dần, Ngọ, Mão.


12. Chủ nhà tuổi Hợi hợp người tuổi Mão, Mùi, Dần.


Ví dụ: Tuổi Gíap Tý hợp với Nhâm Thân vì có địa chi TÝ hợp với địa chi THÂN


Lưu ý: Nếu chọn được cả Thiên can và Địa chi (tuổi) cùng hợp thì càng tốt. Nếu Thiên Can hợp, nhưng Tuổi xung ( Tý xung Ngọ, Mão xung Dậu, Thìn xung Tuất, Sửu xung Mùi xung, Dần xung Thân, Tỵ xung Hợi), thì cũng nên tránh.


III. Chọn tuổi xông nhà theo thiên can


10 thiên can là: Giáp - Ất - Bính – Đinh - Mậu - Kỷ - Canh - Tân - Nhâm – Quý.


1. Chủ nhà Can Giáp hợp với can Kỷ; Nhưng kị với can Canh – can Mậu.


2. Chủ nhà Can Ất hợp với Canh; Kị với can Tân – Kỷ.


3. Chủ nhà Can Bính hợp với Tân mà kỵ với Nhâm – Canh.


4. Chủ nhà Can Đinh hợp với Nhâm mà kỵ với Quý – Tân.


5. Chủ nhà Can Mậu hợp với Quý mà kỵ với Giáp – Nhâm.


6. Chủ nhà Can Kỷ hợp với Giáp mà kỵ với Ất – Quý.


7. Chủ nhà Can Canh hợp với Ất mà kỵ với Bính – Giáp.


8. Chủ nhà Can Tân hợp với Bính mà kỵ với Đinh – Ất.


9. Chủ nhà Can Nhâm hợp với Đinh mà kỵ với Mậu – Bính.


10. Chủ nhà Can Quý hợp với Mậu mà kỵ với Kỷ – Đinh.


Ví dụ: GIÁP NGỌ hợp với KỶ MÙI vì có Thiên can GIÁP hợp Thiên can KỶ.


IV. Chọn tuổi xông nhà theo ngũ hành (mệnh)


1. Chủ nhà mệnh Kim nên chọn người mệnh Thổ, Thuỷ, Kim.


2. Chủ nhà mệnh Mộc nên chọn người mệnh Thuỷ, Hoả, Mộc.


3. Chủ nhà mệnh Thuỷ nên chọn người mệnh Kim, Mộc, Thuỷ.


4. Chủ nhà mệnh Hoả nên chọn người mệnh Mộc, Thổ, Hoả.


5. Chủ nhà mệnh Thổ nên chọn người mệnh Hoả, Kim, Thổ.


Lưu ý: Nếu chọn được mệnh hợp, nhưng Tuổi xung như trên thì cũng nên tránh.


Ví dụ: Tuổi Giáp Tý có ngũ hành năm là Hải Trung Kim (hành Kim), nên chọn tuổi Bính Thìn có ngũ hành năm là Sa Trung Thổ (hành Thổ).


Tránh chọn tuổi Canh Ngọ, vì tuy có ngũ hành năm là Lộ Bàng Thổ (hành Thổ) nhưng Thiên can và Địa chi đều xung.


Ngoài 3 tiêu chí trên, nếu cẩn thận còn xét thêm tuổi của người xông nhà đó với cả năm  xem có xung - hợp hay không.




Khám phá & Chia sẻ Cách chọn tuổi xông nhà đầu năm tại Ngôi nhà Tâm Linh

Thứ Tư, 22 tháng 11, 2017

Đền Dâu - Ninh Bình

Đền Dâu chỉ cách đền quán Cháo hơn 1 km. Đền Dâu cũng nằm sát đường quốc lộ 1A. Đền Dâu cũng gắn với sự tích hóa thân của thánh mẫu vào người con gái bản địa để dạy nhân dân trồng dâu nuôi tằm.



Đền Dâu thuộc địa phận phường Nam Sơn, thành phố Tam Điệp tỉnh Ninh Bình, đền có tên chữ là Tang Dã Linh Từ (nghĩa là: Đền Thiêng nương Dâu) thờ Liễu Hạnh Công chúa – một trong tứ bất tử của điện thần Việt Nam đã hoá thân vào người con gái địa phương giúp dân và quân lính Tây Sơn trồng dâu nuôi tằm.


Đền Dâu toạ lạc trên một thế phong thuỷ đẹp, đền nằm trên một khu đất cao quay hướng đông nam, phía trước đền có núi Hồng Ngọc làm án, phía sau có núi Chong Đèn làm hậu chẩm, bên trái có núi Ngang(Hoành Sơn) làm Thanh Long, bên phải đền có núi Béo làm Bạch Hổ.


Cũng như ở đền Quán Cháo, Lễ hội đền Dâu hàng năm mở vào 15 tháng riêng, tương truyền đó là ngày hội đặt hom dâu và cũng là ngày mừng vua Quang Trung chiến thắng khải hoàn, kéo dài cho đến hết ngày 3-3 Âm lịch (Ngày kỵ của mẫu Liễu), ở địa phương còn lưu truyền câu ca dao:


"Dù ai đi đâu về đâu


Nguyên tiêu lễ hội đền Dâu thì về


Dù au bận rộn trăm bề


Nguyên Tiêu lễ hội thì về đền Dâu"


 Trước đây lễ hội có tục rước tượng và kéo chữ “Mẫu Nghi thiên hạ”, “Thiên hạ thái bình” và “Lý Nhân vi mỹ” nhưng hiện nay tục rước tượng và kéo chữ chưa khôi phục được, chỉ còn lễ và tế nữ quan còn duy trì. Cũng như nhiều phủ, điện Mẫu khác, nơi đây có những nghi thức thờ cúng cơ bản như: hầu bóng, tôn lô nhang và trình đồng để cầu mong đức Thánh Mẫu và các vị thần thánh ban phúc, lộc, thọ và an khang cho trăm họ.


Di tích đền Dâu là một trong những di tích có liên quan chặt chẽ tới Mẫu Liễu Hạnh như ở đền Sòng, Phố Cát (Thanh Hoá), Phủ đồi Ngang, đền Quán Cháo(Ninh Bình) liên quan tới con đường Thiên Lý cổ ra bắc vào Nam, gắn với không gian ảnh hưởng của Mẫu Liễu từ Phủ Tây Hồ (Hà Nội) qua Vân Cát (Nam Định), qua đèo Tam Điệp (Ninh Bình – Thanh Hoá) tới tận đèo Ngang (Hà Tĩnh – Quảng Bình).


Di tích nằm trong không gian của phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn gắn với các địa danh như luỹ Ông Ninh, thung Đong Quân, đèo Tam Điệp, luỹ Quèn Thờ đây là một phòng tuyến có ý nghĩa lịch sử quan trọng của dân tộc trong chiến thắng 20 vạn quân Thanh năm 1789.



Khám phá & Chia sẻ Đền Dâu - Ninh Bình tại Ngôi nhà Tâm Linh

Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017

Đền Cờn - ngôi đền linh thiêng xứ Nghệ

Đền Cờn là một ngôi đền nằm trên gò Diệc, hướng mặt ra sông Hoàng Mai, tại phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, Việt Nam.  Đây Là ngôi đền nổi tiếng linh thiêng xứ Nghệ "Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã". Những ngày đầu Xuân, nhiều du khách trong và ngoài tỉnh tìm về đi lễ đền Cờn.


Đền Cờn Nghệ An là tên gọi chung của Đền Cờn trong và Đền Cờn ngoài. Hai đền này đều thuộc phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, Nghệ An. Đền Cờn trong còn gọi là Đền Mẫu Cờn, đền Cờn ngoài còn gọi là Đền Ông Chín Cờn.


Năm 1993, Đền Cờn là di tích văn hóa cấp quốc gia.


Năm 2017, Lễ hội Đền Cờn được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.


Đền Cờn Thờ ai ?


Khi quân Tống thất bại trong trận chiến Tống - Nguyên, vua Tống Đế Bính cùng quan quân tự vẫn. Thái hậu Dương Nguyệt Quả, cùng 2 công chúa Triệu Nguyệt Khiêu, Triệu Nguyệt Hương và bà nhũ mẫu cũng nhảy xuống biển tự vẫn, thân xác trôi dạt đến cửa Cờn, được người dân nơi đây vớt lên chôn cất và thờ tại Đền.


Thương cảm tấm lòng nghĩa vì nước quên thân của các vị thánh nương nên nhân dần đã lập đền thờ 4 vị thánh nương và thờ luôn những người thân của họ là Vua Tống Kế Bính và 3 tướng thân tín của vua.


Đền được dựng lên để thờ tứ vị thánh nương là 3 mẹ con công chúa nước Nam Tống là: Từ Hy Thái hậu Dương Nguyệt Quả, 2 công chúa là Triệu Nguyệt Khiêu và Triệu Nguyệt Hương và bà nhũ mẫu. Đền cờn thờ cả các vị thần là vua Tống Đế Bính, các quan Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu…


Đền cờn thờ một khúc gỗ thiêng và vỏ hạt lúa.


Tìm về đền Cờn, bên cạnh yếu tố tâm linh, vùng biển Quỳnh Phương còn có nhiều hải sản biển tươi ngon để du khách thưởng thức hay mua về làm quà như cá thu, cá cơm khô, nước mắm...


Di tích Đền Cờn gồm có hai đền: Đền Cờn Trong và Đền Cờn Ngoài. 


Trước đây, nơi đây chỉ có 1 Đền Cờn  thờ chung Tứ Vị Thánh Nương và Vua Tống Đế Bình cùng 3 vị tướng của ngài. Do quan niệm "Nam nữ thụ thụ bất tương thân" nên đầu thế kỷ thứ 19 vua Gia Long đã chuyển cung thờ Vua Tống Đế Bính cùng ba tướng nhà Nam Tống là Lục Tú Phu, Lương Thế Kiệt, Văn Thiên Tường từ Đền Cờn ra núi Thằn Lằn tạo nên hai Đền Cờn. Đền Cờn cũ trở thành đền cơn trong, đền ngoài núi Thằn Lằn gọi là Đền Cờn Ngoài.


Đền Cờn Trong


Đền Cờn Trong nằm trên gò Diệc, hướng mặt ra dòng Mai Giang thơ mộng, thờ Tứ vị Thánh nương Nam Hải Đại càn quốc gia. Đền Cờn Trong được xây dựng vào thời Trần, phát triển quy mô lớn ở thời Lê, trùng tu nhiều ở thời Nguyễn, bởi vậy, di tích mang đậm phong cách văn hóa cuối Lê đầu Nguyễn. Trải qua thời gian, ngôi Đền hiện chỉ còn tòa Nghi môn, Chính điện, Trung điện, Hạ điện và tòa ca vũ.


Đền Cờn Trong được xây dựng vào thời Trần (1235), phát triển quy mô lớn ở thời Lê, trùng tu nhiều ở thời Nguyễn, bởi vậy, di tích mang đậm phong cách văn hóa cuối Lê đầu Nguyễn.


Năm Giáp Thân (1044) vua Lý Thái Tông thân chinh dẫn đại quân đi đánh Chiêm Thành cũng dừng thuyền ở cửa Cờn để tuyển thêm tráng sĩ, nên mới có Đặng Tế ra phò, đánh giặc có công được thờ ở đền Xuân Úc (Quỳnh Liên).


Thời gian Lê Lợi kéo quân Lam Sơn vào Nghệ An (1424) và Ninh quận công Trịnh Toàn (trong những năm Trịnh - Nguyễn phân tranh) khi đã làm Tiết chế kéo quân vào Nghệ An để chống chọi với chúa Hiền cũng đã vào đền Cờn cầu nguyện.


Năm Hồng Đức 11 (1470), vua Lê Thánh Tông lại huy động thủy quân tiến đánh Chiêm Thành, khi đoàn chiến thuyền dừng lại nghỉ ngơi ở cửa Cờn, vua vào đền mật đảo. Sau chiến thắng, đoàn thuyền của vua đi về qua cửa Cờn nhưng lại phải quay lại và vào cửa Cờn (ngay dưới chân đền) để tránh bão. Ngẫm sự kiện này, vua cho là điềm lạ, có lẽ thần đền đòi tri ân chăng, bèn hạ lệnh tăng thêm phẩm vật, cho khắc tượng và dựng thêm một tòa đền. Đêm đó nhà vua mộng thấy Tứ Vị Thánh Nương, bèn Gia phong sắc “Đại Càn Thánh Nương Quốc gia Nam Hải Tứ vị thượng đẳng thần”. Về sau chỗ thuyền quay lại được gọi là Hồi Chân hay Đồng Hồi, tức xã Quỳnh Lập ngày nay (việc này đã được chép lại trong Đại Nam nhất thống chí).


Sang thế kỷ 18, vua Quang Trung đã ban sắc phong với mỹ tự “Hàm hoằng quảng đại” (tức là công lao rộng khắp, to lớn) và “Hàm chương tiết liệt”(nghĩa là nêu gương tiết liệt cho muôn đời).


Đền Cờn Ngoài


Đền Cờn ngoài cách đền Cờn trong khoảng 1km, tọa lạc trên dãy núi Thằn lằn (còn gọi là núi Hùng Vương). Đền thờ các vị thần như: Tống Đế Bính, Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu... Các vị thần này trước phối thờ ở đền Cờn trong.


Theo lời truyền khẩu trong dân gian Phương Cần, sự ra đời của ngôi đền liên quan đến “giấc mộng của vua Hồng Đức”. Tương truyền, năm Hồng Đức thứ 11 (1470), Lê Thánh Tông đi đánh giặc Chiêm thắng trận trở về. Thuyền đến cửa Biện (Thanh Hóa), bỗng gió đông thổi mạnh, phải quay lại cửa Cờn. Nhà vua vào làm lễ tạ thần đền, thấy Đế Bính được thờ chung với các bà, cho rằng theo Nho giáo “nam nữ bất đồng cung”, sai dựng đền Ngoài để thờ Tống Đế Bính và các trung thần Trương Thế Kiệt và Lục Tú Phu.


Đền Ngoài nằm trên dải núi Thằn Lằn ngay tại nơi cao nhất của dải núi. Theo trí tưởng tượng của dân gian trong vùng, vị trí của đền là đầu của một con thằn lằn, phần thân của nó nằm vắt từ phía đông sang phía bắc làng, ngay sát mép biển. Đây là một giải núi thấp, dài gần 1km với độ cao trên 100m so với mực nước biển.


Đền Ngoài được xây dựng vào khoảng thế kỷ 14 (sau đền Trong), được tôn tạo và hoàn chỉnh dưới thời Tự Đức (1848-1883), cùng một lúc với việc tu bổ đền Trong. Đền Ngoài đã bị dân làng và chính quyền sở tại phá hủy vào năm 1979, tức là một năm sau cuộc đụng độ ở biên giới Việt Trung. Bấy giờ, người ta quan niệm: “Thờ thần Tàu đau lòng liệt sĩ”, mặc dù xét về phương diện lịch sử, vị thần được thờ trong đền không liên quan gì tới những mâu thuẫn chính trị thời đó. Cho đến những năm 80 của thế kỷ này, cũng vẫn là những người dân Phương Cần đã đứng ra hưng công tu sửa đền.


Theo lời kể của người dân Phương Cần, một số hiện vật ở đền Ngoài đã bị mất mát, một số khác được đưa vào đền Trong cất giữ. Những dấu tích còn lại của ngôi đền như chân cột nanh, các bậc tam cấp, mặt bằng nền móng, cho thấy quy mô kiến trúc cũ của ngôi đền vẫn còn lưu lại


Tục thờ Tứ Vị Thánh Nương

Tục thờ Tứ Vị Thánh Nương hiện rất phổ biến ở nhiều làng người Việt ven biển từ Bắc vào Nam , ngoài ra còn thấy ở các làng ven biển Trung Bộ . Tuy nhiên tục thờ này phổ biển nhất là miền biển Trung Bộ . Mà trung tâm là Đền Cờn ( Nghệ An ) . Theo Ninh Viết Giao , ngoài đền Cờn còn có hơn 30 làng khác nữa ở Quỳnh Lưu ( Nghệ An ) thờ Tứ Vị Thánh Nương . Riêng huyền Hoàng Hóa ( Thanh Hóa ) cung có 20 làng thờ Tứ Vị Thánh Nương dưới dạng thờ Tống Hậu , Thiên Hậu


Ở Quang Nam - Đà Nẵng tục thờ Tứ Vị Thánh Nương rất phổ biến , hầu như làng nào cũng có tuy nhiên , ít khi có miếu thờ riêng bà . Như trường hợp làng Mỹ Khê  gọi là Miếu Cả , còn phần lớn là phối thờ với các vị thần khác và được gọi với cái tên là  Bà Giàng Lạch ,  tức vị thần chủ sông biển

Khám phá & Chia sẻ Đền Cờn - ngôi đền linh thiêng xứ Nghệ tại Ngôi nhà Tâm Linh

Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2017

Bà Cô Tổ - Ông Mãnh Tổ của dòng họ là ai ?

Trong một dòng họ có rất nhiều bà cô, ông mãnh chết trẻ nhưng không phải bà cô, ông mãnh nào cũng được gọi là bà cô tổ và ông mãnh tổ. Để làm rõ định nghĩa này gianganh.net xin chia sẻ với các bạn những điều mình biết. Mong rằng sẽ góp một định nghĩa giúp cho các bạn có cái nhìn rõ ràng hơn về tâm linh.


BÀ CÔ TỔ


Nhiều người đã được biết và tiếp xúc với bà Cô Tổ của dòng họ qua việc gọi Hồn, nhưng có người vẫn không rõ mối quan hệ như thế nào và tại sao lại gọi là bà Cô Tổ.


ba-co-to


Nay giải thích như sau:


Tổ ở đây là Tổ tiên, nghĩa là Gia Tiên tiền tổ, Cô là người phụ nữ chưa lấy chồng .


Vậy Cô Tổ được hiểu là :


Hội Đồng Gia Tiên tiền tổ đề cử ra một người nữ nhận lĩnh nhiệm vụ quán xuyến, trông nom, theo dõi, để ý các công, các việc của họ hàng, của các con, các cháu ở trên cõi Trần và tùy duyên độ trì che chở, người đó được gọi là bà Cô Tổ.


Người đảm nhận cương vị bà Cô Tổ phải thỏa mãn hai điều kiện:


1.Là người nữ, chưa lấy chồng, bị mất khi còn trẻ tuổi (Cũng có cả trường hợp vài tháng tuổi)


2.Vong linh ở nơi cõi Âm có duyên tu tập theo đạo Mẫu (đạo Tiên) hoặc theo đạo Phật. Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ là bà Cô Tổ không đi theo đạo nào, thậm chí có bà Cô Tổ còn bị giam giữ ở nơi địa ngục)


Nói về mối quan hệ thì có thể đối với người này bà Cô Tổ ở đời thứ tư (Gọi là Cụ - Tứ đại), nhưng đối với người khác thì bà Cô Tổ có thể chỉ là em gái của Bố (gọi là Cô). Với người khác nữa quan hệ có thể chỉ gọi bằng Bác. Hoặc xa hơn nữa thì bà Cô Tổ có thể đã thuộc đời thứ 6,7 (Lục, Thất đại)...vv. Nhưng dù mối quan hệ là thế nào đi nữa thì cũng vẫn gọi chung là bà Cô Tổ vì danh hiệu của bà là như vậy.


Danh hiệu khác ngoài bà Cô Tổ :


Trong một số trường hợp bà cô tổ dòng họ có theo đạo mẫu (đạo tiên), nếu theo hầu các bà Chúa (Ví dụ Bà chúa thượng ngàn, Bà chúa thoải phủ) thì bà Cô Tổ có thêm danh hiệu mới là Chúa Cô Tổ.


Nếu theo hầu các Chầu (ví dụ Chầu bé Bắc Lệ, Chầu Chín....) thì bà Cô Tổ có thêm danh hiệu là Chầu Cô Tổ. Nếu Cô Tổ mang hai danh hiệu trên lại có tu tập tốt, thì trong thế kỷ tâm linh hiện nay còn được “bề trên“ giao phó cho nhiệm vụ chấm đồng bắt lính con cháu. Đây hiểu là con cháu có duyên nợ với Tứ phủ hoặc Phật đạo thì bà cô tổ thuận theo đó để mà khai sáng, giác ngộ, hướng dẫn, dạy bảo, đưa đường chỉ lối…cho con cháu theo đường tu cho đúng với phận số. Bởi vậy có người mệnh kim chi đôi nước trong vấn hầu tiên thánh còn hầu cả Cô Tổ nhà mình.


Trong gia đình nhà nào cũng có thờ cúng bà Cô Tổ. Có thể lập bát hương riêng hoặc lập một ban thờ riêng tùy theo điều kiện hoàn cảnh và tùy theo yêu cầu của bà Cô Tổ.


ÔNG MÃNH TỔ


Người ta thường hay quan tâm, kêu cầu, nhắc tới bà Cô Tổ dòng họ chứ không mấy khi quan tâm, tìm hiểu mãnh tổ dòng họ. Vậy mãnh tổ của dòng họ là ai?


Mãnh tổ dòng họ là người nam chết trẻ còn chưa lập gia đình, độ tuổi từ 13 tuổi trở lên hoặc là người đàn ông sống độc thân khi chết trung tuổi hoặc cao tuổi.


Ông mãnh tổ không do Hội Đồng Gia Tiên của dòng họ bầu cử ra mà do Hội Đồng Quan Sai Địa Phủ chỉ định. Mãnh tổ là người tu tập theo đạo Phật hoặc đạo Tiên (Mẫu), chịu trách nhiệm giám sát, quản lý, giúp đỡ các vong linh gia tiên tiền tổ ở nơi địa phủ.


Mãnh tổ chỉ có thể làm Phán Quan (Phán Quan điện ngục hoặc Phán Quan địa ngục) hoặc Hành Sai địa phủ chứ không nắm giữ bất cứ cương vị nào khác. Bởi vậy khi một người thân mất đi, cúng vong 49 ngày hoặc 100 ngày thường trong sớ Gia Tiên bao giờ cũng phải thỉnh đến ông Mãnh Tổ dòng họ…


Trong những trường hợp đặc biệt, mãnh tổ của dòng họ có thể bị giam cầm nơi địa ngục do những tội lỗi gây ra khi hồn tiền dương thế, lúc này vong chưa thể tu học, tuy nhiên nếu được thoát linh địa ngục thì vong sẽ được bổ nhiệm làm Phán quan hoặc Hành sai, sau đó được cấp phép tu học theo một trong hai đạo đã nói ở trên.


Trường hợp đặc biệt hơn nữa là dòng họ vô phúc, mãnh tổ được chỉ định làm Quỷ Thần (hại người). Trường hợp này dòng họ đó không thể nào tồn tại lâu được, đến thời điểm nào đó sẽ mất họ. Cô Tổ dẫu có linh thiêng mà không giác ngộ được con cháu dương trần làm lễ phả độ gia tiên thì cũng không có cách nào cứu nổi.


Nếu ông mãnh tổ là quỷ thần, bà Cô Tổ lại bị giam ở địa ngục thì thật là một cảnh bi đát khốn cùng, dòng họ ấy suy bại, chết yểu, thảm thương, vô phương cứu chữa.


Khi có ông mãnh tổ mới thay thế (thường phải sau hàng ngàn năm dương trần) thì mãnh tổ cũ sẽ siêu thoát sang cõi giới khác, tiếp tục con đường tu tập đạo pháp, hoặc được bổ nhiệm làm tiểu thần chứ không bao giờ quay lại đầu thai làm kiếp người (Trong khi đó Cô Tổ dòng họ có thể thăng thiên và có thể đầu thai vào cõi nhân làm người).


Như vậy chúng ta hiểu rõ ông mãnh tổ cũng có quyền hạn đáng kể, tuy nhiên khi cúng lễ (như ngày mồng 1, ngày rằm…) thì âm luật lại chỉ cho phép thỉnh Cô Tổ dòng họ chứ không được thỉnh đến ông mãnh tổ và khi lập bát hương cũng chỉ lập bát hương Cô Tổ dòng họ đại diện, không được lập bát hương thờ ông mãnh tổ. Nếu một gia đình nào đó có người hợp vía hợp mệnh với ông mãnh tổ dòng họ thì mới được phép khấn mời mãnh tổ về thụ thực trong những nghi lễ cúng khấn và kêu cầu sự giúp đỡ cần thiết.


Xem thêm bài viết: Bà Cô Tổ - Ông Mãnh Tổ của dòng họ là ai ? tại Khám Phá 365

Sữa chua dê | Sữa chua Ba Vì | Milk100

Thứ Năm, 28 tháng 9, 2017

Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ và Đền Lảnh Giang

Quan Lớn Đệ Tam hay còn gọi là Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ Hay còn gọi là Tam Phủ Vương Quan (Tam Phủ ở đây không phải là số lượng Phủ mà ý chỉ Thuỷ Phủ là phủ thứ ba trong hàng Tứ Phủ vậy nên còn có thể gọi là Bơ Phủ Vương Quan).


Đền thờ chính của Quan Lớn Đệ Tam là Đền Lảnh Giang, Đền Xích Đằng.



Dưới đây là Sự tích Quan Lớn Đệ Tam.

Quan Lớn Đệ Tam vốn là con trai thứ ba của Vua Cha Bát Hải Động Đình, là người rất được vua cha yêu quý nên giao quyền cai quản chốn Long Giai Động Đình, cận bên cạnh phụ vương. Dưới thời Hùng Vương, theo lệnh vua cha, ông cùng hai người em (có sách nói là hai người thân cận) lên giúp Vua Hùng chỉ huy thuỷ binh, lúc này ba vị giáng ở đất Hà Nam, được nhân dân tôn thành “Tam Vị Đại Vương”, trong đó, Quan Đệ Tam là người anh cả trong ba người.


Nhưng lại có điển tích nói rằng, chỉ có một mình Quan Tam Phủ giáng trần vào nhà quý tộc dưới thời Hùng Vương, ông trở thành vị tướng quân thống lĩnh ba quân thuỷ lục. Sau đó trong một trận quyết chiến, ông hy sinh (phần thượng thân (đầu) và hạ thân (mình) trôi về hai bên bờ con sông Lục Đầu). Ông hoá đi, về chầu Long Cung, là người cầm cân nảy mực, thông tri Tam Giới, quyền cai các thanh đồng đạo quan. Vậy nên có khi người ta còn gọi là Ông Cai Đầu Đồng.


Quan Lớn Đệ Tam

Khi thanh nhàn ông truyền ba quân tập hợp thuyền bè, dạo chơi khắp miền, trên sông dưới suối, phù hộ cho ngư dân.


Hầu như những người đã ra hầu Tứ Phủ, khi hầu hàng Quan Lớn, ai cũng phải hầu về Quan Đệ Tam. Có thể coi ông là vị Quan Lớn tài danh hàng đầu. Khi ngự đồng, ông mặc áo trắng thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ điệp và ông múa đôi song kiếm. Khi có đại tiệc khai đàn mở phủ, người ta thỉnh quan về chứng đàn Thoải Phủ (gồm có long chu phượng mã, lốt tam đầu cửu vĩ…: tất cả đều màu trắng).


Đền thờ Quan Lớn đệ Tam ở những đâu?


Đền Lảnh Giang ở Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam


Trong hàng quan lớn, vì danh tiếng bậc nhất nên Quan Lớn Đệ Tam cũng được lập đền thờ phụng ở khắp nơi. Nhưng đầu tiên phải kể đến Đền Lảnh Giang ở Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam (gần Hưng Yên) tương truyền là nơi hạ thân của ông trôi về, sau đó phải nói đến Đền Xích Đằng cũng thuộc Hà Nam (hai ngôi đền này chỉ cách nhau cây cầu Yên Lệnh nối hai bờ sông Lục Đầu) là nơi thờ thượng thân của ngài


Ngoài ra, Quan Lớn Đệ Tam còn được thờ vọng ở khá nhiều nơi: Đền Cửa Đông tại thành phố Lạng Sơn, Đền Lâm Du thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội và Đền Tam Kì thuộc thành phố Hải Phòng, đền Quan Lớn – Phủ Dầy……


Ngày tiệc của Quan Bơ Phủ là ngày 24/6 âm lịch (tương truyền là ngày đản nhật giáng sinh của ông).


Vậy nên trong văn hát câu rằng:


“Đản hai tư tháng sáu xưng thần


Khắp Trung, Nam, Bắc muôn dân đảo cầu”


Khi ông về ngự đồng, khai quang chứng đàn mã sớ điệp, văn thường hát đoạn:


“Lòng thành thắp một chiện nhang


Tấu về Thoải Phủ các ban các toà


Thiên Đình, Thoải Phủ, Diêm La


Tấu về Thoải Phủ Vua Cha Động Đình


Vốn xưa là chúa Thủy Tinh…”


Ngoài ra để ca ngợi tài đức, công lao của ông, văn cũng hát:


“Giáp bạc bao phen rực lửa hồng


Xông pha trăm trận cũng như không


Ra tay cứu nước trừ nguy biến


Tiếng để ngàn thu với non sông


[…] Gươm thần ba thước tay ngang dọc


Tài dậy trời Tây, chí lấp bể Đông”


Hay khi nói về những cuộc dạo chơi khắp sơn thoải đại giang của ông, văn thường hát theo điệu dọc:


“Chiếc thuyền nan nổi dòng Xích Bích


Đua mái chèo du lịch bốn phương


Có phen tuần thú sông Thương


Trở ra tỉnh Bắc qua giang Lục Đầu


[…] Có phen chơi ngã ba Bạch Hạc


Bạn loan ngồi đàn hát vui chơi


Dạo xem phong cảnh mọi nơi


Qua hang Anh Vũ sang chơi nước người”


Và còn có một đoạn rất hay nói về tài phép của quan:


“Hoá tức thì lâu đài điện các


Dâng nước về Thuỷ Quốc một khi


Có phen lấy ngọc lưu ly


Đùng đùng dâng nước phép thì ai đang”


ST



Khám phá & Chia sẻ Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ và Đền Lảnh Giang tại Ngôi nhà Tâm Linh

Thứ Hai, 25 tháng 9, 2017

Tìm hiểu về số lượng hạt trong vòng tay Phong Thủy

Mỗi một người đều có kích thước cổ tay khác nhau, việc lựa chọn vòng tay phong thủy vừa và phù hợp với bản thân là hết sức có ý nghĩa. Chọn đúng số hạt sẽ quyết định đến công dụng của vòng tay phong thủy. 


Vòng tay phong thủy đã có từ rất lâu, hàng nghìn năm trước khi đức Phật đi du hành, ngài đã truyền bá cho dân chúng biết về một chiếc vòng đeo trên tay, về ý nghĩa của chúng và vì sao mang chiếc vòng đó có thể mang lại bình an, hóa giải mọi đau khổ. Chiếc vòng trên tay Phật gọi là niệm châu, hay chuỗi hạt niệm Phật, hay chính là vòng tay phong thủy mà các bạn vẫn hàng ngày đeo trên tay.


Có thể nhận định rằng, những người thích đeo vòng tay phong thủy được cho là có “thiện căn”, có nhân duyên lớn với Phật từ vô thủy kiếp đến nay. Thường khi đi chùa, người dân thắp hương vẫn thường được nhà chùa tặng (hoặc bán để lấy tiền làm công đức) cho những chiếc vòng tay để lấy may, chính xuất phát từ câu truyện này.


Theo quan niệm Phật giáo


Khởi nguồn của vòng tay phong thủy có từ cách đây hàng nghìn năm, trong các sách Phật giáo có ghi chép về một sự tích lâu đời như sau:


“Trong lần đi qua nước Cao Ly (nay là Triều Tiên), Phật nói với vua Ba Lưu Ly rằng “nếu nhà vua muốn diệt phiền não, báo chướng, hãy xâu chuỗi tràng có 108 hạt và mang bên mình. Chuyên tâm niệm Phật khi dùng tay lần hạt. Sau này, thân tâm ắt không tán loạn, cõi lòng thanh tịnh, an lạc, chết đi được đầu sinh lên cõi Diệm Thiên thứ ba”.


Nhà vua nghe lời Phật thực hành một thời gian, thấy vô cùng hiệu nghiệm, cõi lòng vô cùng an lạc, bèn tạ ơn đức Phật và ban lệnh làm thêm một nghìn chuỗi hạt, ban cho lục thân quốc thích mỗi người một chiếc, khuyên bảo ngày ngày làm theo lời Phật dạy.”


Câu chuyện này được ghi chép trong Mộc hoạn tử kinh, đây chính là nguồn gốc xưa nhất của vòng tay phong thủy trong Phật giáo, vòng tay phong thủy được sử dụng ngày nay cũng bắt nguồn từ truyền thuyết đó.


Vậy tại sao chiếc vòng nhà vua mang bên mình lại có 108 hạt? Thực ra, số hạt này biểu hiện hàm ý rất thâm sâu, dựa vào các kinh điển, tổng cộng có tất cả 9 loại. Những hàm nghĩa này được kết hợp giữa số lượng hạt niệm châu với danh hiệu trong kinh điển. Bao gồm loại 1080 hạt, 108 hạt, 54 hạt, 42 hạt, 36 hạt, 27 hạt, 21 hạt, 18 hạt, 14 hạt và có một loại dành cho người thường là loại không có số hạt nhất định, lấy kích thước cổ tay để xác định số hạt.


Nói tiếp đến loại vòng tay không có số hạt nhất định, trong sách nhà Phật có đoạn viết về người thích đeo loại vòng hạt này trên tay, rằng:


“Nếu như có người tay cầm chuỗi hạt này, không thể theo lệ niệm tụng danh hiệu Phật và Đà la ni, nhưng có thể cầm tay hoặc mang bên mình lúc đi, đứng, nằm, ngồi. Những lời được nói ra lúc thiện lúc ác, người này nếu như cầm chuỗi hạt trên tay, sẽ đắc công đức, nếu như niệm chư Phật, tụng chú, được phúc vô lượng”.


Qua đây chúng ta cũng thấy, dưới quan niệm của nhà Phật, vòng tay phong thủy thực ra không quy định số hạt.


Số hạt vòng tay phong thủy phạm vào chữ “Tử”


Có một số quan niệm về số lượng hạt vòng tay phong thủy gắn liền với vòng luân hồi “sinh, lão, bệnh, tử”, theo đó nếu đếm từ 1 đến 4 theo thứ tự sinh- lão- bệnh- tử và lặp lại thì số 5 sẽ đứng chữ sinh, số 6- 7- 8 sẽ lần lượt đứng vào chữ lão- bệnh- tử. Tương tự như vậy nếu vòng tay phong thủy có 16 hạt sẽ đứng chữ tử, 17 hạt sẽ đứng chữ sinh, 18 hạt sẽ đứng chữ lão và 19 hạt sẽ đứng chữ bệnh.


Có quan niệm lại cho rằng, khi mua vòng tay phong thủy nên chọn số hạt vòng lẻ như 17 hạt, 19 hạt, 21 hạt…vì số lẻ thuộc tính dương sẽ mang đến những nguồn năng lượng tốt cho bạn.


Hai quan niệm trên, nếu tra cứu trong sách vở nhà Phật sẽ thấy đây là những kiến giải hoàn toàn sai lầm. Còn nếu xét về mặt khoa học phong thủy, những quan niệm này cũng hoàn toàn không có căn cứ. Khi hỏi các bậc thầy về phong thủy, họ cũng phủ nhận quan niệm này và cho rằng đây chỉ là những quan điểm truyền miệng, không được xác thực.


Qua đây, hy vọng các bạn sẽ an tâm khi lựa chọn cho mình một chiếc vòng phong thủy đẹp, không quan trọng số hạt, bởi vì khi bạn đeo chiếc vòng này trên tay, bạn đã là con của Phật rồi.



Khám phá & Chia sẻ Tìm hiểu về số lượng hạt trong vòng tay Phong Thủy tại Ngôi nhà Tâm Linh